Con một có thật sự cô đơn, ích kỷ hơn? Nghiên cứu kéo dài nhiều thập kỷ đưa ra câu trả lời bất ngờ
Định kiến "con một dễ ích kỷ, cô đơn" tồn tại cả thế kỷ, nhưng hàng trăm nghiên cứu khoa học nghiêm túc lại cho ra một kết luận gần như ngược lại hoàn toàn.
"Con một dễ hư, ích kỷ, không biết chia sẻ" - đây gần như là câu cửa miệng mà không ít cha mẹ chỉ sinh một con từng nghe qua, dù từ người thân hay từ chính sự tự vấn của bản thân.
Định kiến này thực chất có nguồn gốc từ tận năm 1907, khi Granville Stanley Hall - chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) tuyên bố rằng "làm con một tự nó đã là một loại bệnh". Tuyên bố này định hình nhận thức xã hội trong suốt nhiều thập kỷ sau đó, đến mức một khảo sát quốc gia tại Mỹ từng ghi nhận có tới 67% người được hỏi tin rằng con một là "thiệt thòi" hơn so với trẻ có anh chị em. Nhưng khi các nhà khoa học thực sự đưa định kiến này ra kiểm chứng bằng dữ liệu quy mô lớn, kết quả lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác.
Nghiên cứu tổng hợp hơn 140 công trình khoa học trong hơn nửa thế kỷ
Năm 1986, hai nhà tâm lý học Toni Falbo và Denise Polit tại Đại học Texas ở Austin công bố một phân tích tổng hợp (meta-analysis) gây chú ý lớn trong giới nghiên cứu. Họ gộp dữ liệu từ 141 nghiên cứu riêng lẻ về con một, trải dài từ năm 1925 cho đến thời điểm công bố, để tìm kiếm những khuôn mẫu nhất quán xuyên suốt nhiều thập kỷ.
Kết quả hoàn toàn đi ngược lại định kiến phổ biến. Về tính cách, con một gần như không có sự khác biệt đáng kể nào so với trẻ có anh chị em. Con một không hề ích kỷ hơn, không kém hòa đồng hơn, không khó thích nghi xã hội hơn như định kiến vẫn gán cho. Điểm khác biệt thực sự duy nhất được ghi nhận là con một thường có xu hướng đạt động lực thành tích và điểm số học tập nhỉnh hơn một chút, cùng mối quan hệ gắn bó với cha mẹ bền chặt hơn. Nói cách khác, đây hoàn toàn là những khác biệt tích cực, trái ngược hẳn với hình ảnh "con một hư hỏng" mà trước đó xã hội vẫn mặc định.

Con một không đồng nghĩa với việc lớn lên cô đơn hay ích kỷ hơn, như định kiến vẫn thường gán cho con một (Ảnh minh họa)
Phát hiện này không phải là trường hợp cá biệt. Một nghiên cứu năm 2019 phân tích dữ liệu của hơn 20.000 người trưởng thành tại New Zealand cũng đi đến kết luận tương tự. Khác biệt tính cách giữa con một và trẻ có anh chị em nhỏ đến mức gần như không đáng kể về mặt thống kê. Một nghiên cứu khác đăng trên tạp chí Social Psychological and Personality Science, khi đo lường trực tiếp mức độ tự yêu bản thân (narcissism), cũng không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy con một có xu hướng này cao hơn nhóm còn lại.
Phát hiện bí mật bất ngờ
Nếu tính ích kỷ đã bị bác bỏ, vậy còn định kiến "con một cô đơn" thì sao? Đây có lẽ là phần bất ngờ nhất. Chính Toni Falbo, cùng các cộng sự, đã dành riêng một nghiên cứu để kiểm chứng định kiến này tại Trung Quốc - nơi định kiến "con một cô đơn" đặc biệt phổ biến do ảnh hưởng của chính sách một con kéo dài nhiều thập kỷ. Nhóm nghiên cứu khảo sát cả nhận thức xã hội lẫn trải nghiệm thực tế của các thanh thiếu niên.
Kết quả là dù niềm tin rằng con một cô đơn hơn vẫn rất phổ biến trong xã hội Trung Quốc, dữ liệu thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Những người có anh chị em báo cáo mức độ cô đơn cao hơn so với những người là con một. Nói cách khác, chính định kiến xã hội về sự cô đơn của con một hóa ra lại thiếu căn cứ thực nghiệm hơn nhiều so với những gì số đông vẫn tin.

Trên thực tế, có anh chị em vẫn có thể cảm thấy cô đơn (Ảnh minh họa)
Về phần vì sao định kiến sai lại tồn tại dai dẳng đến vậy thì theo các nhà nghiên cứu, một phần lý do chính đến từ việc định kiến "con một hư hỏng" bắt nguồn từ một tuyên bố mang tính cá nhân, thiếu cơ sở khoa học vững chắc từ hơn một thế kỷ trước, nhưng lại được lặp lại quá nhiều lần đến mức trở thành "sự thật hiển nhiên" trong nhận thức đại chúng. Đây cũng là một hiện tượng không hiếm gặp trong lịch sử tâm lý học đại chúng.
Ngoài ra, định kiến này có xu hướng phổ biến hơn ở các nền văn hóa đề cao tính tập thể và xem việc có nhiều con là chuẩn mực. Tong khi ở nhiều bối cảnh văn hóa khác, con một đôi khi lại được nhìn nhận theo hướng ngược lại, là may mắn, hoặc thậm chí là gánh nặng vì phải một mình gánh vác trách nhiệm gia đình sau này.
Bài học cho cha mẹ chỉ có một con
Với những gia đình lựa chọn hoặc chỉ có điều kiện sinh một con, phát hiện này mang lại một sự trấn an quan trọng khi hóa ra, việc con không có anh chị em không tự động dẫn đến những hệ quả tính cách tiêu cực như định kiến xã hội vẫn gán ghép. Điều thực sự ảnh hưởng đến sự phát triển tính cách của trẻ, theo phần lớn nghiên cứu tâm lý học phát triển hiện đại, nằm ở cách trẻ được nuôi dạy, mức độ được lắng nghe và tạo cơ hội tương tác xã hội bên ngoài gia đình, chứ không nằm ở việc trẻ có anh chị em ruột hay không.
Tổng hợp