Ông Trần, 58 tuổi ở Trung Quốc, liên tục vài ngày thấy bắp chân trái hơi căng tức. Ông nghĩ do đi lại nhiều nên không để ý. Cho đến một buổi sáng đột ngột tức ngực, khó thở rồi ngất trong nhà vệ sinh. Khi nhập viện, bác sĩ chẩn đoán ông bị thuyên tắc phổi. Cục máu đông hình thành ở chân đã bong ra, trôi lên và làm tắc động mạch phổi. Bác sĩ nhận định nếu phát hiện sớm tình trạng sưng chân, có thể đã tránh được cơn nguy kịch này.
Câu chuyện là lời nhắc rằng huyết khối có thể âm thầm hình thành. Khi bong ra hoặc làm tắc mạch máu quan trọng, hậu quả có thể rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rõ: phần lớn các biểu hiện như mệt mỏi, tê tay chân, chóng mặt không liên quan đến huyết khối. Điều thực sự đáng cảnh giác là các triệu chứng xuất hiện đột ngột, xảy ra một bên cơ thể và tiến triển nhanh, đặc biệt ở người có yếu tố nguy cơ cao.

Huyết khối không phải “tắc toàn thân” mà phân theo vị trí và đặc điểm
Nhiều người cho rằng huyết khối là máu đặc lại và làm tắc nghẽn toàn bộ mạch máu. Thực tế trong y học, huyết khối chủ yếu gồm hai loại là huyết khối động mạch và huyết khối tĩnh mạch, cơ chế hình thành và biểu hiện hoàn toàn khác nhau.
Huyết khối động mạch thường do mảng xơ vữa động mạch bị vỡ, hay gặp ở tim và não. Biểu hiện đặc trưng là mất chức năng đột ngột như đột quỵ não với yếu liệt một bên, nói khó, méo miệng; hoặc nhồi máu cơ tim với đau ngực kiểu bóp nghẹt, vã mồ hôi. Diễn tiến rất nhanh, thời gian vàng cấp cứu tính bằng phút.
Huyết khối tĩnh mạch thường gặp ở tĩnh mạch sâu chi dưới, còn gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu DVT. Nguyên nhân liên quan đến dòng máu chảy chậm, tình trạng tăng đông hoặc tổn thương thành mạch. Dấu hiệu điển hình là một bên bắp chân hoặc đùi sưng, đau, nóng, ấn vào cơ cẳng chân thấy đau. Nếu cục máu đông bong ra và di chuyển lên phổi sẽ gây thuyên tắc phổi với biểu hiện khó thở đột ngột, đau ngực, ho ra máu, ngất xỉu, có thể đe dọa tính mạng.
Điểm khác biệt cốt lõi là huyết khối động mạch gây ngừng cấp máu nuôi cơ quan, còn huyết khối tĩnh mạch gây cản trở dòng máu hồi lưu. Yếu tố nguy cơ và cách phòng ngừa của hai nhóm này cũng khác nhau.
Ai là người có nguy cơ cao?
Huyết khối không xảy ra ngẫu nhiên. Nguy cơ tăng rõ rệt ở các nhóm sau:
- Người nằm lâu, ít vận động như sau phẫu thuật, ngồi máy bay đường dài hoặc dân văn phòng ngồi nhiều khiến máu ứ trệ ở chi dưới.
- Bệnh nhân ung thư do khối u có thể làm máu ở trạng thái tăng đông.
- Người có tiền sử gia đình hoặc rối loạn đông máu di truyền.
- Phụ nữ dùng estrogen như một số loại thuốc tránh thai hoặc liệu pháp hormone thay thế.
- Người béo phì, hút thuốc lá, cao tuổi, suy tim, rung nhĩ.
Dấu hiệu phải đi cấp cứu ngay
Không cần quá lo lắng với mọi biểu hiện khó chịu, nhưng nếu xuất hiện các triệu chứng sau cần đến cơ sở y tế trong vòng một giờ:
- Yếu hoặc tê đột ngột một bên cơ thể, méo miệng, nói khó, nghi ngờ đột quỵ não.
- Đau ngực dữ dội kiểu đè ép kèm vã mồ hôi, lan lên vai trái hoặc hàm, cảnh giác nhồi máu cơ tim.
- Sưng, đau, đỏ nóng một bên cẳng chân hoặc đùi, nghĩ đến huyết khối tĩnh mạch sâu.
- Khó thở đột ngột, đau ngực, tim đập nhanh, ngất, nghi ngờ thuyên tắc phổi.
Đặc điểm chung là xuất hiện đột ngột, mức độ nặng và tăng nhanh, không thể giải thích bằng mệt mỏi thông thường. Nếu kèm yếu tố nguy cơ như vừa phẫu thuật hoặc nằm bất động dài ngày thì càng cần cảnh giác.
Ngược lại, tê tay chân mạn tính, chóng mặt thoáng qua, mệt mỏi kéo dài, ngủ kém phần lớn không liên quan đến huyết khối mà thường do bệnh cột sống cổ, thiếu máu, rối loạn lo âu hoặc rối loạn giấc ngủ.
Phòng ngừa huyết khối: quan trọng ở vận động và kiểm soát bệnh nền
Với người nguy cơ cao, phòng ngừa luôn quan trọng hơn điều trị.
- Tránh ngồi hoặc nằm quá lâu. Cứ mỗi giờ nên đứng dậy vận động vài phút. Khi đi đường dài nên uống đủ nước, có thể dùng tất áp lực theo tư vấn y tế.
- Sau phẫu thuật nên vận động sớm khi bác sĩ cho phép và dùng thuốc chống đông nếu được chỉ định.
- Kiểm soát tốt tăng huyết áp, đái tháo đường, rung nhĩ. Bệnh nhân rung nhĩ cần dùng thuốc chống đông theo hướng dẫn.
- Bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, duy trì cân nặng hợp lý.
- Không tự ý dùng các sản phẩm “hoạt huyết” như đan sâm hay tam thất vì có thể tương tác với thuốc chống đông và làm tăng nguy cơ chảy máu.
Với người đã được chẩn đoán huyết khối, điều trị chống đông đúng phác đồ giúp giảm nguy cơ tái phát. Tuy nhiên không nên vì sợ huyết khối mà lạm dụng thuốc, bởi bản thân thuốc chống đông cũng tiềm ẩn nguy cơ xuất huyết và phải được sử dụng dưới sự theo dõi của bác sĩ.
Nhận biết đúng dấu hiệu, xử trí kịp thời và duy trì lối sống vận động là cách tốt nhất để giảm thiểu rủi ro từ cục máu đông, thay vì hoang mang trước mọi biểu hiện mơ hồ của cơ thể.
Nguồn và ảnh: Sohu