Nhu cầu ngắt kết nối của người đi làm: Khi sếp “@all” lúc 11h đêm nhưng không ai phản hồi lại trở thành vấn đề

Theo phunumoi.net.vn
Chia sẻ

Ngày trước tan làm là rời văn phòng. Bây giờ văn phòng luôn ở trong túi xách, túi quần áo thông qua chiếc điện thoại, laptop… và không ai thực sự rời khỏi nó.

Bạn có nhớ lần cuối cùng thật sự rời khỏi công việc là khi nào không?

Không phải rời văn phòng. Mà là rời khỏi công việc theo nghĩa đầu óc không còn canh điện thoại, không còn tự hỏi "Không biết có ai tìm mình không nhỉ?", không còn cảm giác mình đang nợ ai đó một task nào đó.

Với nhiều người làm công ăn lương hiện nay, câu trả lời có lẽ là không nhớ nổi. Ranh giới giữa giờ làm việc và thời gian cá nhân đã mờ dần từ lúc nào, âm thầm đến mức người trong cuộc không kịp nhận ra. Và ở ngoài kia, không ít người đi làm vẫn đang tự hỏi: Liệu mình có được phép tắt điện thoại - mà không thấy có lỗi?

Không ai có quy định chính thức về việc phải online nhưng ai cũng online

Minh Thư, 26 tuổi, nhân viên account tại một agency truyền thông ở TP.HCM, mô tả công việc của mình bằng một hình ảnh rất quen thuộc: điện thoại không bao giờ được để quá xa.

"Có những hôm đã tan làm nhưng khách vẫn nhắn tin chỉnh nội dung, hỏi tiến độ. Mình đang đi cà phê, đang đi ăn với bạn cũng phải mở điện thoại, thậm chí ôm laptop xử lý việc gấp. Bạn bè mình đã quá quen với cảnh này, thấy mình ‘Ôi thôi chết’ là để mặc kệ cho ngồi một góc riêng làm việc” - Minh Thư kể lại.

Điều đáng chú ý không phải là tần suất, mà là bản chất của những tin nhắn đó. Minh Thư thừa nhận nhiều việc không thực sự khẩn cấp, nhưng mọi người vẫn có thói quen yêu cầu xử lý ngay - đến mức khi mọi thứ đều được gọi là cấp bách, thì thật ra không còn gì thực sự khẩn cấp nữa. Lâu dần, phản hồi tin nhắn công việc ngoài giờ làm việc trở thành điều mặc định hơn là ngoại lệ.

Ở một môi trường khác - startup công nghệ, tốc độ cao hơn, áp lực vận hành rõ hơn - Quang Khải (32 tuổi, Hà Nội), quản lý cấp trung, cũng trải qua cảm giác tương tự. Anh gọi trạng thái của mình là "luôn luôn online". Luôn check group chat, luôn theo dõi vấn đề từ team sản phẩm, kỹ thuật, khách hàng - kể cả khi đang đi du lịch.

Vậy áp lực đó đến từ đâu? Từ sếp? Từ nội quy? Cả Minh Thư lẫn Quang Khải đều lắc đầu. Câu trả lời thực ra đáng lo hơn nhiều.

"Không có quy định rõ ràng nào về việc bạn phải trả lời lúc 11h đêm nhưng nếu sếp chat @all, tất cả mọi người trong group đều xác nhận thông tin còn mình im lặng, tự nhiên mình trở thành người có vấn đề” - Minh Thư nói.

Và cơ chế tự giám sát đó vận hành mượt mà đến mức nhiều môi trường không còn kiểm soát nhân viên bằng chấm công hay giờ giấc nữa, mà bằng mức độ hiện diện online. Online liên tục trở thành một dạng "chấm công vô hình" của dân văn phòng - ai trả lời nhanh hơn, ai online muộn hơn sẽ dễ được xem là chăm chỉ hơn.

Quang Khải bổ sung thêm một góc nhìn từ người đứng ở giữa, vừa là quản lý vừa là nhân viên: "Chỉ cần sếp thường xuyên nhắn tin ngoài giờ, nhân viên sẽ tự hiểu rằng việc phản hồi nhanh là điều nên làm, dù không ai nói thẳng điều đó.

Điều nguy hiểm hơn là ở một số doanh nghiệp, văn hóa đó thường được ngụy trang dưới những từ nghe có vẻ tích cực như ‘máu lửa’, ‘tinh thần chủ động’, hay ‘tinh thần đồng đội’. Nhưng nếu một người không dám tắt điện thoại vì sợ bị đánh giá thì đó không còn là tự nguyện nữa. Đôi khi thứ giữ nhân viên online không phải trách nhiệm, mà là nỗi sợ”.

Hệ quả của vòng lặp này là nhiều văn phòng đánh giá sự tận tâm bằng tốc độ trả lời tin nhắn. Minh Thư giãi bày: "Mình biết ở một số môi trường, việc trả lời tin nhắn của sếp lúc 1h sáng được xem như thành tích nghề nghiệp. Họ đang vô thức lãng mạn hóa sự kiệt sức. Người mới đi làm nhìn vào sẽ nghĩ muốn được công nhận thì phải chấp nhận sống cùng công việc 24/7. Dần dần, chuyện hy sinh thời gian cá nhân không còn là tình huống bất đắc dĩ mà trở thành một dạng thành tích”.

Quang Khải cũng đồng quan điểm với Minh Thư. Anh cho biết: “ Lương của nhân viên chỉ được trả cho 8 tiếng làm việc, không phải 24 tiếng online. Vậy nhưng không ít doanh nghiệp lại đang đánh giá sự cống hiến bằng khả năng hy sinh thời gian cá nhân thay vì chất lượng công việc thực sự. Một người online tới 2h sáng chưa chắc làm hiệu quả hơn người biết quản lý thời gian và giữ được năng lượng ổn định. Nhưng văn hóa công sở hiện tại đôi khi ưu ái người 'luôn có mặt' hơn là người làm việc hiệu quả thực sự nhưng ‘ít online’”.

Và công nghệ, thứ vốn được tạo ra để giải phóng con người, lại trở thành đồng lõa của hiện tượng luôn phải online.

Quang Khải giải thích: “Trước đây tan làm là rời văn phòng, còn bây giờ văn phòng luôn ở trong túi xách, túi quần áo thông qua chiếc điện thoại, laptop và người ta không thể ngắt kết nối với công việc.

Công nghệ giúp con người làm việc ở mọi nơi, nhưng cũng khiến công việc xuất hiện ở mọi nơi. Công việc không còn kết thúc rõ ràng nữa, nó luôn ở đó, chỉ cách mình một màn hình, một chiếc thông báo. Và khi ranh giới công việc - cuộc sống biến mất quá lâu, con người rất dễ đánh mất cảm giác mình đang thật sự sống ngoài công việc”.

Ngắt kết nối là để nghỉ ngơi, không phải để được lười biếng

Có một từ mà cả Minh Thư lẫn Quang Khải đều nhắc đến sau quãng thời gian không được ngắt kết nối: burnout. Không phải kiểu kiệt sức vì làm quá nhiều, nó là kiểu kiệt sức đến từ việc không bao giờ được thật sự nghỉ ngơi.

"Làm nhiều vẫn có thể nghỉ, còn cảm giác phải chờ tin nhắn/ email mới là thứ khiến đầu óc không bao giờ được offline. Nó tạo ra một kiểu mệt mỏi âm ỉ” - Minh Thư nói.

Quang Khải thấy điều đó hiện ra rõ nhất ở hiệu suất: "Khi đầu óc không được nghỉ ngơi thật sự, người ta vẫn làm việc nhưng làm theo quán tính. Điều đó có thể dễ dẫn đến sai sót hơn, ra quyết định chậm hơn và sáng tạo kém hơn".

Vậy tại sao biết mà không dừng lại?

Minh Thư thành thật: "Mình hiểu bản thân cần nghỉ ngơi sau một ngày làm việc. Nhưng nếu tan làm tắt điện thoại mà sáng hôm sau có sự cố, mình sẽ là người đầu tiên phải giải trình, thậm chí bị phạt, bị trừ lương. Cái rủi ro đó cụ thể hơn, hữu hình hơn cái mệt mỏi”.

Và thế là mỗi ngày Thư đều nghĩ “thôi rep đi cho xong, mai tính tiếp”. Nhưng mai lại có việc khác, vấn đề khác nên đến lúc nhìn lại cô đã thành thói quen từ khi nào, giờ không online lại thấy bứt rứt.

Vừa chịu áp lực từ cấp trên, vừa đi gây áp lực cho cấp dưới, Quang Khải cũng ở thế khó: "Mình biết nhắn tin ngoài giờ làm việc cho nhân viên là không ổn. Nhưng khi deadline đến, khi hệ thống lỗi, khi cấp trên hối thúc thì mình vẫn phải nhắn. Áp lực từ trên dồn xuống mình, rồi mình lại dồn xuống team”.

Lần đầu còn thấy khó chịu nhưng cái khó chịu không đủ nặng so với vấn đề cần xử lý nên mình chậc lưỡi bỏ qua. Rồi lần sau lại bỏ qua. Dần dần, thứ từng là ngoại lệ trở thành mặc định, không phải vì người ta đồng ý, mà vì người ta quên mất rằng mình có thể không đồng ý.

Chính từ thực tế đó, các chuyên gia mới đây đã đề xuất sớm đưa quyền ngắt kết nối (right to disconnect) của người lao động vào Bộ luật Lao động sửa đổi sắp tới. Theo lộ trình, Quốc hội dự kiến xem xét và thông qua tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10/2026. Thông tin nhanh chóng thu hút sự chú ý của công chúng, nhất là người lao động.

Thực tế, khái niệm này không mới với thế giới - quyền ngắt kết nối được ghi nhận lần đầu tại Pháp năm 2016 và đã lan rộng ra nhiều quốc gia trong hơn 1 thập kỷ qua. Chẳng hạn như từ tháng 8/2024, Australia chính thức áp dụng quyền ngắt kết nối, cho phép người lao động từ chối phản hồi công việc ngoài giờ mà không sợ bị xử phạt - với mức phạt lên đến 94.000 AUD (gần 1,8 tỷ đồng, theo tỷ giá hiện tại) cho doanh nghiệp vi phạm.

Hiện tại, thông tin vẫn đang là đề xuất, chuyện người lao động Việt Nam có được quyền ngắt kết nối hay không vẫn đang ở phía trước song cả Minh Thư lẫn Quang Khải đều ủng hộ. Đồng thời, họ cũng nhìn nhận vấn đề theo cách thực tế hơn.

"Mình ủng hộ vì ít nhất nó tạo ra nhận thức rằng thời gian ngoài giờ cũng cần được tôn trọng" - Minh Thư nói, dù cô thừa nhận với đặc thù ngành agency, việc áp dụng triệt để sẽ không dễ.

Quang Khải đưa ra một góc nhìn sâu sắc hơn với vấn đề: “Luật tạo ra chuẩn mực, nhưng để thực sự hiệu quả thì vẫn cần thay đổi từ văn hóa doanh nghiệp và cách quản lý con người. Nếu sếp/khách hàng vẫn nhắn tin lúc 11h đêm thì dù có luật, nhiều nhân viên vẫn sẽ cảm thấy họ cần reply”.

Nói cách khác, luật có thể đặt ra ranh giới nhưng ranh giới đó chỉ có ý nghĩa khi người ta thật sự muốn tôn trọng nó. Và điều đó đòi hỏi một sự thay đổi trong cách doanh nghiệp định nghĩa nhân viên tốt.

"Một môi trường bền vững nên được đánh giá bằng hiệu quả công việc, không phải bằng việc ai online muộn hơn ai. Thế hệ người lao động hiện tại không còn xem việc hy sinh toàn bộ đời sống cá nhân cho công việc là điều hiển nhiên nữa. Và đây cũng là thay đổi tích cực, vì nó buộc doanh nghiệp phải nhìn lại văn hóa làm việc của mình” - Quang Khải nói thêm.

Bên cạnh đó như Minh Thư thừa nhận, nhiều ngành nghề, công việc trong các lĩnh vực công nghệ, truyền thông, y tế, tài chính,... yêu cầu phải online liên tục, phản hồi nhanh chóng kể cả ngoài giờ làm việc là bất khả kháng. Không phải lúc nào đó cũng là văn hóa độc hại, mà là đặc thù nghề nghiệp khó tránh.

Vì vậy hơn ai hết, chính các doanh nghiệp cũng hiểu rằng một nhân viên kiệt sức sẽ không thể làm việc hiệu quả lâu dài. Họ thường chủ động tìm cách cân bằng bằng phân công ca trực rõ ràng để không ai phải online 24/7, linh động thời gian chấm công với các nhân sự phải làm việc ngoài giờ đột xuất, cho phép nghỉ bù,... hoặc đơn giản là không push gấp với tin nhắn ngoài giờ làm việc. Với các doanh nghiệp này, giữ người bằng cách để họ được ngắt kết nối thật sự cũng là bài toán hiệu suất, không chỉ là phúc lợi.

Ngắt kết nối, suy cho cùng, không phải là tìm cách luồn lách, trốn tránh công việc để được lười biếng. Đó là nguyện vọng được nghỉ ngơi đúng nghĩa để ngày hôm sau có thể làm việc tốt hơn, sống trọn vẹn hơn. Và bước đầu tiên để có được điều đó, có lẽ là chúng ta dám thừa nhận tan làm là tan làm, không phải tan làm là đổi chỗ làm việc từ công ty về nhà.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày