Điều trị ung thư vú đang thay đổi ra sao?
Cùng với sự phát triển của y học, cách tiếp cận điều trị đang thay đổi theo hướng giảm can thiệp không cần thiết, lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc điểm từng người bệnh và nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán.
Theo GLOBOCAN 2024, Việt Nam ghi nhận 25.711 ca mắc mới ung thư vú, cao nhất trong các loại ung thư. Trên toàn cầu, ung thư vú là loại ung thư được chẩn đoán nhiều nhất ở nữ giới, với khoảng 2,4 triệu ca mắc mới trong năm 2024.
Tuy nhiên, câu chuyện của ung thư vú hiện nay không chỉ nằm ở việc phát hiện bệnh sớm. Cùng với sự phát triển của y học, cách tiếp cận điều trị đang thay đổi theo hướng giảm can thiệp không cần thiết, lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc điểm từng người bệnh và nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán. Những thay đổi này đòi hỏi đội ngũ bác sĩ cần liên tục cập nhật tiến bộ mới vào thực hành lâm sàng.
Chia sẻ tại Hội nghị "Những xu hướng mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú: Điểm nhấn từ GBCC 2026" diễn ra vào sáng 3/10, GS.BS Jeong Eon Lee (Giám đốc Trung tâm Ung thư Vú - Giám đốc Văn phòng Đối ngoại, Trung tâm Y tế Samsung) cho biết, theo những gì ông được biết, tỷ lệ bệnh nhân ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn tiến triển tại Việt Nam có thể cao hơn so với Hàn Quốc. Ví dụ, tại Hàn Quốc, hơn hai phần ba bệnh nhân ung thư vú được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, như giai đoạn I hoặc IIA. Trong khi đó, nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn tiến triển, khả năng điều trị khỏi hoàn toàn có thể bị hạn chế. Vì vậy, chúng ta cần đặc biệt chú trọng đến việc phát hiện và chẩn đoán sớm ung thư vú. Ông đặc biệt đánh giá, các bác sĩ Việt Nam rất tận tâm và luôn nỗ lực hết mình vì người bệnh.

GS.BS Jeong Eon Lee và PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng chia sẻ thông tin liên quan ung thư vú. (Ảnh: TM)
PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Minh Phương (Trưởng Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh) chia sẻ, trong điều trị ung thư vú tại Việt Nam, các bệnh nhân cùng một giai đoạn nhưng tính chất sinh học của ung thư vú khác nhau nên bệnh nhân sử dụng các phác đồ điều trị hoàn toàn khác nhau. Thậm chí trong cùng một giai đoạn, có những bệnh nhân sau khi phẫu thuật xong phải điều trị hóa chất bổ trợ, nhưng cũng có những bệnh nhân khác hoàn toàn không phải điều trị bổ trợ sau phẫu thuật.
"Nguyên nhân bởi, hiện nay chúng ta có những xét nghiệm về công nghệ gen rất hiện đại, nhằm xác định được nhóm bệnh nhân ung thư không nhận được lợi ích khi điều trị hóa chất, làm cho người bệnh giảm độc tính của hóa chất mà lại có đạt được hiệu quả cao", BS Phương nói.
Chuyên gia cho biết thêm: "Đối với những cái trường hợp bệnh nhân rất trẻ thì trước khi chúng tôi điều trị thì đều các bệnh nhân đều được tư vấn trữ trứng. Bởi vì khi chúng ta điều trị hóa chất một thời gian dài, gây ức chế với chức năng buồng trứng thì có thể người phụ nữ sẽ không còn khả năng sinh sản nữa. Do vậy, đa phần chúng tôi tư vấn là bệnh nhân sẽ được trữ trứng trước. Do đó, sau khi điều trị ung thư vú ổn, bệnh nhân cũng có thể sử dụng trứng đó để làm IVF, hiện thực hóa giấc mơ làm mẹ".
PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng (Trưởng khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ - Răng Hàm Mặt; Trưởng đơn vị Phẫu thuật các bệnh lý tuyến vú - Trung tâm Vú - Phụ khoa, BVĐK Hồng Ngọc) cho rằng, ở bệnh nhân sau điều trị ung thư vú, phẫu thuật tái tạo vú trước đây chủ yếu nhằm phục hồi hình thể, giúp phụ nữ tự tin hơn khi mặc trang phục và trong giao tiếp xã hội. Ngày nay, tái tạo vú hướng tới cả ba tiêu chí: hình dáng, sự mềm mại và cảm giác. "Vì vậy, phương án tái tạo cần được cá thể hóa theo đặc điểm và nhu cầu của từng người bệnh, thay vì áp dụng một kỹ thuật chung cho tất cả", ông nói.