Một trong những nội dung đáng chú ý của luật là quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm nhằm ngăn chặn việc lạm dụng công nghệ AI gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như an ninh, trật tự xã hội.
Theo đó, thời gian gần đây, trên không gian mạng xuất hiện nhiều trường hợp lợi dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo để tạo dựng hình ảnh, video hoặc thông tin sai sự thật nhằm dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực.
Các đối tượng thường sử dụng hình ảnh của người nổi tiếng hoặc nhân vật có ảnh hưởng để tạo ra những phát ngôn giả, thông tin giật gân hoặc các “thuyết âm mưu” nhằm thu hút sự chú ý của người xem. Nhờ sự phát triển của các công cụ AI, những nội dung này có thể được tạo ra với chi phí thấp nhưng chất lượng hình ảnh và âm thanh ngày càng chân thực, khiến việc phân biệt thật - giả trở nên khó khăn hơn.

Một tài khoản TikTok đăng hàng chục video giả mạo cảnh người dân kêu khóc trên nóc nhà (Ảnh chụp màn hình)

Đây đều là hình ảnh giả mạo (Ảnh chụp màn hình)
Những nội dung giả mạo này có thể lan truyền nhanh chóng trên nhiều nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok hoặc trong các nhóm kín trên Telegram, gây ảnh hưởng đến nhận thức của người dùng và tiềm ẩn nhiều hệ lụy.
Một số dấu hiệu nhận biết nội dung do AI tạo ra
Theo khuyến cáo của cơ quan chức năng, hình ảnh hoặc video được tạo dựng bằng AI thường có một số dấu hiệu bất thường như ánh sáng và màu sắc quá hoàn hảo, chuyển động miệng không khớp với âm thanh hoặc giọng nói đều, thiếu cảm xúc.
Khi quan sát kỹ, người xem có thể nhận ra các chi tiết thiếu logic như bàn tay thừa ngón, ánh mắt thiếu tự nhiên, làn da và mái tóc thiếu chi tiết, chữ viết méo mó hoặc sai chính tả. Bên cạnh đó, bố cục và hậu cảnh trong video hoặc hình ảnh đôi khi xuất hiện các chi tiết bất hợp lý hoặc không tuân theo quy luật vật lý.
6 hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Trí tuệ nhân tạo
Tại Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm gồm:
1. Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật; Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người; Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác; Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
3. Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
4. Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo.
5. Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
6. Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
Theo quy định, các tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Theo PHÒNG AN NINH MẠNG VÀ PCTPSD CÔNG NGHỆ CAO CATP HẢI PHÒNG