Việt Nam có một vị Trạng nguyên viết cuốn sách toán được dùng suốt 450 năm

Theo Sức khỏe cộng đồng
Chia sẻ

Bảng cửu chương của ông đến số 9 chỉ còn đúng một phép tính.

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, phần lớn các vị Trạng nguyên được nhớ đến nhờ tài văn chương. Lương Thế Vinh là một trường hợp hiếm có. Ông cũng nổi danh về thơ văn, nhưng điều thực sự khiến ông trở thành cái tên được hậu thế nhắc mãi lại gắn với những con số. Vì quá giỏi đo lường, tính toán, dân gian gọi ông là "Trạng Lường".

Lương Thế Vinh sinh năm 1441, mất năm 1496, quê ở vùng Sơn Nam xưa (nay thuộc Ninh Bình). Tương truyền, từ nhỏ ông đã có lối nghĩ khác người. Có lần lũ trẻ trong làng đố nhau đo chiều cao một cái cây mà không cần trèo lên. Trong khi cả đám loay hoay, cậu bé Vinh chỉ cắm một chiếc gậy xuống đất. Cậu đo bóng của gậy rồi so với bóng cây để tính ra chiều cao, khiến bạn bè tròn mắt kinh ngạc.

Đỗ Trạng nguyên năm 23 tuổi, được vua đề thơ khen ngợi

Năm 1463, dưới triều vua Lê Thánh Tông, Lương Thế Vinh dự khoa thi Quý Mùi. Khoa thi năm ấy có khoảng 4.400 cử nhân tham dự nhưng chỉ chọn được 44 tiến sĩ. Chàng trai 23 tuổi đỗ đầu, trở thành Trạng nguyên. Vua Lê Thánh Tông đặc biệt ban một lá cờ khoa, tự tay đề tên ba vị đỗ cao nhất thành bài thơ "Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh, Thám hoa Quách Đình Bảo, Thiên hạ cộng tri danh". Câu cuối có nghĩa là thiên hạ ai cũng biết tên.

Trạng nguyên Lương Thế Vinh đỗ đầu khoa thi năm 1463 khi mới 23 tuổi, trong số khoảng 4.400 cử nhân dự thi

Điều thú vị là Lương Thế Vinh nổi tiếng không thích kiểu học nhồi nhét. Quách Đình Bảo, người đỗ đầu kỳ thi Hội năm ấy và hơn ông 7 tuổi, từng thấy ông sát ngày thi mà chẳng mấy bận tâm chuyện học. Ông Bảo chỉ biết tặc lưỡi rằng đó mới thật là bậc kỳ tài.

Sau khi đỗ đạt, Lương Thế Vinh không chỉ làm quan hay ngâm thơ như nhiều danh sĩ cùng thời. Ông giảng dạy ở Quốc Tử Giám, Sùng Văn quán và Tú Lâm cục, những cơ sở giáo dục cao cấp bậc nhất triều Lê. Song song với đó, ông còn đảm nhận việc khảo sát, tính toán để xây dựng cung điện, thành quách, đường sá và đê điều.

Cuốn sách toán dùng suốt 450 năm và bảng cửu chương "rút gọn"

Tác phẩm làm nên tên tuổi của Lương Thế Vinh là Đại Thành Toán Pháp. Đây được xem là cuốn sách giáo khoa toán học đầu tiên của Việt Nam. Sách được dùng làm tài liệu giảng dạy suốt khoảng 450 năm, một điều hiếm thấy trong lịch sử giáo dục nước nhà.

Nội dung cuốn sách rất gần với đời sống. Trong đó có bảng cửu chương, phép nhân, phép khai căn và phép chia đều. Sách cũng hướng dẫn cách đo bóng để tính chiều cao, cách cân, đong, đo, đếm. Người đọc còn học được cách đo diện tích hình vuông, hình chữ nhật, tam giác, hình tròn và cả những thửa ruộng có hình dạng phức tạp. Với người nông dân và quan lại thời ấy, đây đều là kiến thức dùng hằng ngày.

Đặc biệt nhất là bảng cửu chương của ông. Bảng này giản lược và dễ nhớ hơn bảng ngày nay. Các số đã nhân với nhau thì không tính lại. Chẳng hạn đã có 2 nhân 3 thì đến bảng 3 không cần ghi 3 nhân 2 nữa. Nhờ vậy, đến bảng thứ 9 chỉ còn đúng một phép tính là 9 nhân 9 bằng 81. Cả bảng cửu chương từ 1 đến 9 vì thế chỉ có 45 phép tính, thay vì 81 như cách học quen thuộc.

Bảng cửu chương trong Đại Thành Toán Pháp bỏ đi các phép tính lặp lại, đến bảng 9 chỉ còn đúng một phép tính 9 nhân 9 bằng 81

Tài toán học của ông còn đi vào nhiều giai thoại. Tương truyền, sứ thần nhà Minh từng đố cách cân một con voi mà không phải giết nó. Lương Thế Vinh cho voi đứng lên thuyền, đánh dấu mực nước. Sau đó ông dắt voi lên rồi chất đá xuống thuyền đến đúng vạch cũ. Cân số đá ấy là ra cân nặng của voi. Có lần sứ thần lại đố đo bề dày một tờ giấy. Ông bình thản đo cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ. Sứ giả chỉ biết thốt lên rằng nước Nam quả có lắm người tài.

Không chỉ giỏi toán, Lương Thế Vinh còn là người đa tài hiếm có. Ông giữ chức Sái phu trong Hội Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông lập ra, chuyên bình và sửa thơ. Ông am hiểu sâu sắc nghệ thuật chèo, để lại Hý Phường Phả Lục, được xem là công trình lý luận đầu tiên về sân khấu truyền thống Việt Nam. Ông còn nghiên cứu Phật học với cuốn Thiền Môn Khoa Giáo.

Gần 600 năm sau, tên ông được đặt cho nhiều trường học và con phố trên khắp cả nước.

Tổng hợp (Đại Đoàn Kết, Người Quan Sát, Vietnamnet)

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày