Trạng nguyên duy nhất Việt Nam được vua vẽ chân dung đặt cạnh ngai vàng, từng là Hiệu trưởng Quốc Tử Giám
Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, được cho là từng đỗ trạng nguyên trong kỳ thi ở Đại Việt và tiếp tục giành danh hiệu tương tự khi đi sứ nhà Minh.
Nguyễn Trực sinh năm 1417 tại làng Bối Khê, thuộc vùng Tam Hưng, nay là Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Theo các tài liệu về gia phả được lưu truyền, dòng họ ông có nhiều thế hệ đỗ đạt và làm quan. Cụ nội Nguyễn Từ Hữu, ông nội Nguyễn Bính và thân phụ Nguyễn Thời Trung của Nguyễn Trực đều được ghi nhận là những người có học vấn, từng đảm nhiệm công việc liên quan đến triều đình hoặc giáo dục.
Dù xuất thân trong gia đình danh tiếng, Nguyễn Trực không lớn lên trong nhung lụa. Thuở nhỏ, ông thường theo cha mẹ làm việc đồng áng, chăn trâu và tranh thủ đọc sách mỗi khi có thời gian. Hình ảnh cậu bé ngồi trên lưng trâu, tay cầm sách dần trở thành một nét đặc trưng trong những câu chuyện kể về tuổi thơ của vị trạng nguyên.
Nguyễn Trực sớm nổi tiếng thông minh, ham học. Theo những tư liệu viết về ông, năm 12 tuổi, ông đã giỏi văn thơ; đến năm 18 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương. Khả năng học tập nổi bật giúp Nguyễn Trực trở thành một trong những gương mặt đáng chú ý của giới sĩ tử đương thời.
Năm Nhâm Tuất 1442, triều Hậu Lê tổ chức khoa thi tiến sĩ đầu tiên. Nguyễn Trực tham gia kỳ thi Hội cùng hàng trăm cống sĩ, sau đó bước vào thi Đình và trở thành người đứng đầu trong số những người trúng tuyển. Nhà vua ban cho ông danh hiệu Trạng nguyên, đưa tên tuổi chàng trai trẻ từ vùng quê Bối Khê vào hàng ngũ những nhân vật tiêu biểu của nền khoa cử Đại Việt. Một số tài liệu ghi nhận khi đỗ trạng, ông khoảng 25-26 tuổi, tùy cách tính tuổi theo tập quán đương thời.
Tuy nhiên, con đường làm quan của Nguyễn Trực không bắt đầu ngay sau khi đỗ đạt. Thân phụ qua đời khiến ông phải về chịu tang theo lễ nghi, sau đó mới trở lại triều đình. Khi được bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng dưới thời vua Lê Nhân Tông, Nguyễn Trực từng dâng biểu tạ ơn và xin từ chối vì cho rằng bản thân còn trẻ, chưa xứng đáng với trọng trách được giao. Theo các câu chuyện về cuộc đời ông, nhà vua phải ban sắc dụ nhiều lần, ông mới nhận chức.

Nguyễn Trực sinh ra trong gia đình truyền thống khoa bảng, từ cụ, ông và bố đều làm tiến sĩ và làm quan trong triều đình (Ảnh minh hoạ)
Trong thời gian làm quan, Nguyễn Trực được đánh giá là người thẳng thắn, cương trực, giữ đúng phép tắc và không ngại can gián. Chính phẩm chất ấy góp phần giúp ông được vua Lê Nhân Tông tin cậy. Khi nhà vua qua đời trong biến cố năm 1459, Nguyễn Trực được cho là đã soạn văn tế, ca ngợi công đức của tiên đế và gián tiếp lên án hành động tiếm vị của Lê Nghi Dân. Câu chuyện này thường được nhắc đến như một biểu hiện cho thái độ chính trực của ông trước những biến động trong triều đình.
Một giai thoại nổi tiếng khác gắn với Nguyễn Trực là việc vua Lê Nhân Tông cho vẽ chân dung ông đặt cạnh ngai vàng. Chuyện kể rằng khi mẹ qua đời, Nguyễn Trực xin rời triều đình về quê chịu tang. Nhà vua vốn quý trọng người bề tôi tài năng, lại quen có ông bên cạnh trong công việc, nên cho người vẽ hình ông để đặt gần ngai vàng, như một cách vơi đi nỗi nhớ. Chi tiết này được lưu truyền trong các câu chuyện về Nguyễn Trực, thể hiện sự trân trọng đặc biệt mà nhà vua dành cho ông; tuy nhiên, cần phân biệt đây là giai thoại lịch sử, không nên xem mọi chi tiết như một sự kiện đã được kiểm chứng độc lập.
Không chỉ được trọng vọng trong nước, Nguyễn Trực còn gắn với danh hiệu “Lưỡng quốc Trạng nguyên” qua câu chuyện đi sứ nhà Minh. Theo các ghi chép và giai thoại được dẫn lại trong những tài liệu lịch sử, năm 1457, triều đình cử Nguyễn Trực cùng Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường sang phương Bắc thực hiện nhiệm vụ ngoại giao. Khi biết triều Minh đang mở khoa thi tuyển chọn nhân tài, hai ông được kể là đã tham gia ứng thí và đạt thứ hạng cao: Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên, còn Trịnh Thiết Trường đỗ bảng nhãn.
Câu chuyện kể rằng dù vừa trải qua hành trình xa xôi, điều kiện sinh hoạt khó khăn và thời tiết khắc nghiệt, hai vị sứ thần vẫn hoàn thành bài thi, qua đó thể hiện tài năng của người Đại Việt trước triều đình phương Bắc. Nguyễn Trực được gắn với danh hiệu “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, còn Trịnh Thiết Trường được nhắc đến với danh xưng “Lưỡng quốc Bảng nhãn”. Những câu chuyện này góp phần làm nên danh tiếng đặc biệt của Nguyễn Trực trong lịch sử khoa cử, dù các chi tiết về kỳ thi tại nhà Minh cần được đối chiếu với nguồn sử liệu cụ thể khi trình bày như sự kiện xác thực.
Năm 1460, Lê Thánh Tông lên ngôi và tiến hành củng cố bộ máy triều đình. Nguyễn Trực tiếp tục được nhà vua tin dùng. Ông được bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng), tức người đứng đầu cơ sở giáo dục đào tạo sĩ tử và nhân tài cho đất nước. Đây là vị trí cho thấy triều đình đánh giá cao cả kiến thức lẫn kinh nghiệm của ông trong việc học thuật và giáo dục.
Trên cương vị mới, Nguyễn Trực được cho là đã dành nhiều tâm sức biên soạn tài liệu giảng dạy, góp phần phục vụ việc học tập của sĩ tử. Danh tiếng của ông không chỉ đến từ thành tích khoa cử mà còn từ vai trò của một nhà nho có học vấn sâu rộng, được người đương thời tôn trọng. Ông được nhắc đến như một bậc nho sư, có ảnh hưởng trong giới học thuật thời Hậu Lê.

Nguyễn Trực đã dày công biên soạn nhiều tài liệu giảng dạy và được người đương thời tôn làm bậc nho sư (Ảnh minh hoạ)
Vua Lê Thánh Tông cũng coi trọng ý kiến của Nguyễn Trực trong các công việc liên quan đến văn chương và biên soạn sách. Theo sách Những Người Thầy Trong Sử Việt, trong quá trình biên soạn bộ Thiên Nam Dư Hạ Tập, mỗi khi hoàn thành một tập, nhà vua đều cho người mang đến để Nguyễn Trực đọc và nhận xét. Sau những buổi xướng họa của vua với các danh sĩ trong hội Tao Đàn, bản chép lại cũng được gửi đến ông xem xét, dù Nguyễn Trực không nằm trong nhóm 28 thành viên thường được nhắc đến của hội này.
Sự trọng dụng ấy tiếp tục được thể hiện khi Nguyễn Trực về già. Ông nhiều lần xin cáo lão, mong trở về quê sống giản dị, nhưng theo các tư liệu kể lại, vua Lê Thánh Tông vẫn muốn giữ ông bên cạnh và cho ngự y đến tận nhà chăm sóc khi tuổi cao. Điều này cho thấy Nguyễn Trực không chỉ được đánh giá qua tài năng mà còn được triều đình quý trọng bởi kinh nghiệm và uy tín tích lũy trong nhiều năm làm quan.
Năm 1474, Nguyễn Trực qua đời, hưởng thọ 57 tuổi. Tên tuổi ông được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn với những câu chuyện về cậu bé chăn trâu ham học, vị trạng nguyên tài danh và người thầy từng đứng đầu Quốc Tử Giám. Đền thờ ông tại quê nhà được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2011; tên ông cũng được đặt cho một con phố ở Hà Nội.
Tổng hợp (VTC News, Dân Việt, Giáo Dục & Thời Đại)