Vị vua được coi là một trong những minh quân vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam

Theo Sức khỏe cộng đồng
Chia sẻ

Lên ngôi khi mới 18 tuổi giữa lúc triều đình nhà Lê nhiều biến động, Lê Thánh Tông đã trị vì hơn 37 năm và đưa Đại Việt phát triển mạnh trên nhiều phương diện.

Trong lịch sử Việt Nam, Lê Thánh Tông là vị vua để lại dấu ấn sâu rộng trên nhiều mặt của đời sống đất nước. Ông không chỉ trị vì lâu nhất trong số các vua thời Lê sơ mà còn gắn với một giai đoạn thường được nhắc đến bằng hai chữ “Hồng Đức” - thời kỳ mà bộ máy nhà nước được củng cố, lãnh thổ được mở rộng, giáo dục và khoa cử phát triển, pháp luật được hoàn thiện, còn văn hóa, sử học cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng.

Lê Thánh Tông tên húy là Lê Tư Thành, là con thứ tư của vua Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao. Ông sinh ngày 20/7/1442 tại khu vực chùa Huy Văn, Khâm Thiên, Hà Nội ngày nay. Ngay từ khi còn nhỏ, Lê Tư Thành đã được sử sách mô tả là người có tư chất đặc biệt. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng khi mới sinh, ông có “thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường”, dung mạo tuấn tú, nhân hậu và được đánh giá là người “thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước”.

Năm 1445, khi mới 3 tuổi, Lê Tư Thành được phong Bình Nguyên vương và ở kinh sư học tập cùng các vương khác. Các quan trong triều nhận thấy ông có dáng vẻ đường hoàng, thông minh, nhưng không phô trương tài năng. Bình Nguyên vương sống khá kín đáo, dành nhiều thời gian đọc sách cổ kim, tìm hiểu nghĩa lý thánh hiền, thích điều thiện và trọng người hiền. Ông được Thái hậu Nguyễn Thị Anh yêu mến và vua Lê Nhân Tông coi như một người em đặc biệt.

Lê Thánh Tông tên húy là Lê Tư Thành (Ảnh minh hoạ)

Bước ngoặt đến vào năm 1459. Lê Nghi Dân sát hại vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh rồi lên ngôi, nhưng chỉ khoảng tám tháng sau đã bị các đại thần lật đổ. Trong tình thế triều đình cần một người có đủ uy tín và năng lực để ổn định đất nước, các đại thần, đứng đầu là Nguyễn Xí và Đinh Liệt, đã lựa chọn Lê Tư Thành. Ngày 8/6/1460, ở tuổi 18, Lê Tư Thành lên ngôi, lấy hiệu Lê Thánh Tông.

Từ đây, ông bắt đầu một thời kỳ trị vì kéo dài hơn 37 năm, qua hai niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức. Đây cũng là giai đoạn nhà Lê sơ đạt đến đỉnh cao về tổ chức nhà nước và phát triển văn hóa, giáo dục. Một trong những điểm đáng chú ý trong cách trị nước của Lê Thánh Tông là ông không chỉ tập trung vào một lĩnh vực riêng lẻ mà đồng thời tiến hành nhiều cải cách về hành chính, pháp luật, kinh tế, quân sự, giáo dục và văn hóa.

Về tổ chức nhà nước, Lê Thánh Tông từng bước củng cố mô hình quân chủ tập quyền, hạn chế quyền lực của các thế lực quý tộc và tăng vai trò của tầng lớp quan lại được tuyển chọn thông qua khoa cử. Hệ thống hành chính được tổ chức lại, từ 5 đạo dưới thời trước chuyển thành 13 thừa tuyên, đồng thời các cơ quan trung ương như các bộ, viện, ty được củng cố. Bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương ngày càng được quy định chặt chẽ hơn, tạo nền tảng cho một nhà nước tập quyền tương đối hoàn chỉnh ở Đại Việt thế kỷ XV.

Trong kinh tế, nhà vua chú trọng nông nghiệp, khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở đồn điền, đào kênh, khơi ngòi, phát triển giao thông và chợ búa. Những chính sách như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền hay các quy định về chế độ quan lại cho thấy triều đình thời Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm đến việc củng cố đời sống kinh tế và ổn định xã hội.

Quân sự cũng là một lĩnh vực được nhà vua đặc biệt chú trọng. Lê Thánh Tông tổ chức lại lực lượng quân đội, củng cố các phủ đô đốc, vệ, sở và chú ý xây dựng lực lượng dự bị tại địa phương. Ông ban hành những quy định nghiêm ngặt về quân chính, duy trì phép “ngụ binh ư nông” và tăng cường khả năng bảo vệ biên giới. Năm 1471, quân Đại Việt dưới thời ông tiến đánh Chiêm Thành, qua đó mở rộng đáng kể phạm vi kiểm soát của quốc gia về phía Nam.

Trong việc bảo vệ lãnh thổ, Lê Thánh Tông cũng thể hiện quan điểm cứng rắn nhưng có tính toán đối với vấn đề biên giới phía Bắc. Một câu nói thường được nhắc đến của ông trong Đại Việt sử ký toàn thư là: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại tự tiện vứt bỏ đi được”. Tư tưởng này cho thấy sự coi trọng chủ quyền lãnh thổ của nhà vua trong bối cảnh Đại Việt phải thường xuyên xử lý quan hệ với nhà Minh.

Nếu quân sự giúp củng cố vị thế bên ngoài thì pháp luật lại là một trong những nền tảng quan trọng để ổn định đất nước từ bên trong. Dưới thời Lê Thánh Tông, Quốc triều hình luật, thường được gọi là Bộ luật Hồng Đức, được hoàn thiện. Bộ luật được hình thành qua nhiều đời vua nhà Lê và được bổ sung, hoàn chỉnh trong niên hiệu Hồng Đức. Với 13 chương và 722 điều, bộ luật bao quát nhiều lĩnh vực như hình sự, dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình và tố tụng. Đây được xem là một trong những thành tựu lập pháp nổi bật nhất của thời Lê sơ.

Điểm đáng chú ý là pháp luật dưới thời Lê Thánh Tông không chỉ nhằm xử phạt mà còn góp phần thiết lập trật tự quản lý xã hội. Bộ luật có những quy định liên quan đến quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người già yếu, quan hệ tài sản, thừa kế và quản lý đất đai. Chính vì vậy, Quốc triều hình luật được đánh giá là một công trình pháp điển hóa tiêu biểu trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời phong kiến.

Giáo dục và khoa cử cũng đạt bước phát triển mạnh dưới triều Lê Thánh Tông. Nhà vua cho củng cố Quốc Tử Giám, xây dựng các cơ sở phục vụ việc học và lưu trữ sách, đồng thời mở rộng hệ thống trường học ở các địa phương. Khoa cử được tổ chức ngày càng quy củ, trở thành con đường quan trọng để tuyển chọn nhân tài cho bộ máy nhà nước. Trong thời gian vua Lê Thánh Tông trị vì, triều Lê mở 12 khoa thi và lấy đỗ hơn 500 tiến sĩ theo các thống kê lịch sử được lưu lại.

Trong lịch sử Việt Nam, Lê Thánh Tông là vị vua để lại dấu ấn sâu rộng trên nhiều mặt của đời sống đất nước (Ảnh minh hoạ)

Một dấu ấn vẫn còn hiện hữu đến ngày nay là hệ thống bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng những tấm bia đầu tiên, ghi danh những người đỗ đại khoa từ khoa thi năm 1442. Mỗi tấm bia được đặt trên lưng rùa, thể hiện sự tôn vinh đối với người tài. Sau đó, các triều đại tiếp tục dựng thêm bia, hình thành 82 bia Tiến sĩ hiện còn được biết đến tại Văn Miếu.

Đặc biệt, bài văn bia khoa thi Nhâm Tuất năm 1442 do Thân Nhân Trung soạn năm 1484 đã để lại một câu nói trở thành tư tưởng nổi tiếng về vai trò của giáo dục và nhân tài: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Quan niệm ấy không chỉ phản ánh tư tưởng trọng dụng người tài của triều Lê Thánh Tông mà còn trở thành một trong những thông điệp được nhắc lại nhiều nhất khi nói về truyền thống hiếu học của Việt Nam.

Cùng với giáo dục, Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm đến việc ghi chép và bảo tồn lịch sử dân tộc. Năm 1479, ông giao Ngô Sĩ Liên biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư trên cơ sở kế thừa các bộ quốc sử trước đó, trong đó có công trình của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên. Bộ sử được viết theo thể biên niên, trở thành một trong những nguồn tư liệu quan trọng nhất để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời trung đại.

Những thành tựu trên nhiều lĩnh vực khiến thời kỳ Lê Thánh Tông trị vì thường được xem là giai đoạn cường thịnh của Đại Việt. Không chỉ bộ máy nhà nước được củng cố, pháp luật được hoàn thiện, quân đội được tổ chức chặt chẽ, lãnh thổ được mở rộng mà giáo dục, khoa cử, sử học và văn chương cũng phát triển mạnh. Vì diễn ra chủ yếu trong niên hiệu Hồng Đức, giai đoạn này thường được gọi là thời kỳ “Hồng Đức thịnh trị”.

Ngày 29/1/1497, khi đang ở tuổi 55, Lê Thánh Tông lâm bệnh nặng và truyền ngôi cho Hoàng thái tử. Ngày 30/1/1497, ông qua đời tại điện Bảo Quang, kết thúc hơn 37 năm trị vì. Ông được an táng tại Chiêu Lăng ở Thanh Hóa.

Hơn 500 năm sau khi Lê Thánh Tông qua đời, nhiều dấu ấn của triều đại ông vẫn còn hiện diện trong đời sống văn hóa Việt Nam, nổi bật là hệ thống bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám và những bộ sử, bộ luật được xem là di sản quan trọng của thời Lê sơ.

Tổng hợp (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, VTC News)

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày