Vị bác sĩ Việt đầu tiên được “cầm dao mổ” và mang hàm Giáo sư: 13 lần dựng lại Trường Y giữa thời chiến

Theo suckhoe24h
Chia sẻ

Vị bác sĩ Việt đầu tiên được trao quyền “cầm dao mổ”, cũng là vị Giáo sư 13 lần dựng lại Trường Y giữa thời chiến đó là ai?

Đó chính là: Giáo sư Hồ Đắc Di.

Bác sĩ Việt đầu tiên được trao quyền “cầm dao mổ”

GS Hồ Đắc Di sinh năm 1900 tại Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Năm 1918, ông sang Pháp học. Năm 1920, ông thi đỗ vào Khoa Y, Trường Đại học Tổng hợp Paris. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ y khoa nội trú, ông làm việc tại Bệnh viện Tenon, nơi có cơ hội học phẫu thuật dưới sự hướng dẫn của các Giáo sư Gernez và Monlonguet.

Ngay từ những năm đầu sự nghiệp, tài năng của GS Hồ Đắc Di đã được thể hiện bằng nghiên cứu và sáng tạo kỹ thuật. Ông đề xuất phương pháp nối thông dạ dày - tá tràng để điều trị hẹp môn vị do loét dạ dày - tá tràng, thay cho phương pháp cắt bỏ dạ dày được sử dụng trước đó. Phương pháp này về sau mang tên ông và được giới chuyên môn thừa nhận, trích dẫn trong các sách chuyên khảo và tạp chí y học.

Năm 1931, trở về Việt Nam, GS Hồ Đắc Di từng làm việc tại Bệnh viện Huế rồi Quy Nhơn. Một năm sau, ông được mời về Hà Nội giảng dạy tại Trường Y - Dược Hà Nội và làm phẫu thuật viên tại Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức).

Đây cũng là thời điểm ông phải vượt qua một rào cản lớn. Khi đó, trên toàn Đông Dương chỉ có hai bác sĩ phẫu thuật được phép hành nghề và đều là người Pháp. GS Hồ Đắc Di đã đấu tranh để được hành nghề phẫu thuật và trở thành người thứ ba, đồng thời là người Việt đầu tiên được chính quyền thực dân Pháp cho phép làm bác sĩ phẫu thuật.

GS Hồ Đắc Di (Ảnh tư liệu)

Trước Cách mạng Tháng Tám, Hội đồng giáo sư của Trường Y - Dược Hà Nội, khi đó gồm toàn các giáo sư người Pháp, lần lượt bầu ông làm Phó giáo sư rồi Giáo sư. Tháng 12/1943, GS Hồ Đắc Di trở thành người Việt Nam duy nhất được giữ chức Giáo sư tại thời điểm đó.

Đó không chỉ là một danh hiệu cá nhân. Với nền y học Việt Nam khi ấy, sự xuất hiện của một Giáo sư y khoa người Việt là dấu mốc cho thấy trí tuệ và năng lực chuyên môn của người Việt đã được khẳng định ngay trong một môi trường y khoa do người Pháp chi phối.

Xây dựng nền móng cho trường Y

Nếu những công trình phẫu thuật làm nên tên tuổi của GS Hồ Đắc Di trong giới chuyên môn, thì sự nghiệp giáo dục mới tạo nên ảnh hưởng lâu dài của ông đối với nền y học Việt Nam.

Từ năm 1935 đến 1945, ông có 37 công trình khoa học đứng tên chung với các đồng nghiệp và học trò, tập trung vào những bệnh lý đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo và còn nhiều khó khăn. Các nghiên cứu trải rộng từ viêm phúc mạc do thương hàn, viêm tụy cấp, sốc do chấn thương đến phẫu thuật sản khoa và điều trị loét dạ dày - tá tràng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, GS Hồ Đắc Di được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiều trọng trách: Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Hà Nội, Tổng Thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Vụ Đại học và Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy. Ông trở thành một trong những trụ cột của công cuộc xây dựng nền y học cách mạng và hệ thống đào tạo y khoa mới.

13 lần di chuyển, trường Y vẫn không đóng cửa

Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, GS Hồ Đắc Di cùng các trí thức ngành y tổ chức cứu chữa thương binh, nhân dân và tiếp tục đào tạo cán bộ y tế.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Trường Y phải di chuyển tới 13 lần. Mỗi lần chuyển địa điểm là một lần gần như phải dựng lại toàn bộ cơ sở. Trường và bệnh viện có lúc phải phân tán giữa rừng, trong những điều kiện thiếu thốn và luôn đối mặt với nguy cơ bị địch tấn công.

Đó chính là một phần quan trọng trong tầm vóc của GS Hồ Đắc Di: ông không chỉ tạo ra một kỹ thuật, mà góp phần tạo ra cả một thế hệ những người tiếp tục làm nên nền y học Việt Nam.

GS Hồ Đắc Di giữ cương vị Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội từ năm 1945 đến 1976, trải qua cả hai cuộc kháng chiến và giai đoạn đất nước xây dựng lại sau chiến tranh. Trong 32 năm ấy, Trường Đại học Y Hà Nội trở thành nơi đào tạo phần lớn nguồn nhân lực y tế chất lượng cao cho cả nước, đồng thời góp phần hình thành tiền thân của nhiều trường đại học y sau này.

Ông đặc biệt coi trọng mối quan hệ giữa giảng dạy và nghiên cứu, quan niệm đại học không chỉ là nơi truyền đạt tri thức đã có mà còn phải là nơi sản sinh tri thức mới.

Với ông, nghề y càng không đơn thuần là một nghề kỹ thuật. Năm 1949, tại Hội nghị Y học toàn quốc ở Việt Bắc, ông nhấn mạnh rằng người làm nghề y phải dành chỗ cho trái tim không kém gì trí tuệ. Châm ngôn của ông là tình thương yêu bệnh nhân và đặt quyền lợi của người bệnh lên hàng đầu.

Bởi vậy, khi nhìn lại sự nghiệp của GS Hồ Đắc Di, có thể thấy tầm vóc của ông vượt xa hình ảnh một nhà phẫu thuật tài năng.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày