Từ 5/10, cha, mẹ nuôi con có thể nhận thêm khoản trợ cấp mỗi tháng nếu thuộc diện này
Điều kiện nhận khoản trợ cấp, thủ tục xin để nhận trợ cấp cụ thể ra sao là điều nhiều người quan tâm.
Ngày 21/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội. Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Nghị định có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, thay thế, điều chỉnh nhiều quy định liên quan tới trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, chăm sóc, nuôi dưỡng và trợ giúp khẩn cấp.
Một trong những nhóm đáng chú ý là người đơn thân nghèo nuôi con. Đây là nhóm có thể được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng với mức tính theo số con đủ điều kiện đang nuôi.
Tuy nhiên, không phải tất cả những người đang một mình chăm sóc con đều mặc nhiên thuộc diện hưởng chính sách này.
Ảnh minh họa
Cha, mẹ đơn thân nào thuộc diện được nhận trợ cấp?
Khoản 4 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định đối tượng là người thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, chưa có chồng hoặc chưa có vợ; hoặc đã có chồng, vợ nhưng người đó đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi. Nhóm này được gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con.
Như vậy, yếu tố quan trọng đầu tiên người dân cần lưu ý là điều kiện về hoàn cảnh kinh tế. Việc một người đang một mình nuôi con chưa đồng nghĩa với việc tự động được nhận trợ cấp. Người đó còn phải thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo và đáp ứng các điều kiện về tình trạng hôn nhân, độ tuổi của con theo quy định.
Nghị định cũng có quy định nhằm duy trì hỗ trợ đối với một số gia đình có con từ đủ 16 tuổi trở lên.
Cụ thể, trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, nhưng người con đủ 16 tuổi và tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học văn bằng thứ nhất, nếu quá trình học liên tục, không bị gián đoạn ngoài những trường hợp được phép tạm dừng hoặc bảo lưu theo quy định, người đơn thân vẫn được tiếp tục hưởng trợ cấp cho đến khi người con kết thúc việc học.
Đây là chi tiết đáng chú ý với những gia đình đang có con ở độ tuổi học THPT, học nghề hoặc đại học.
Ảnh minh họa
Mỗi con được tính hệ số 1,0, mức chuẩn là 540.000 đồng/tháng
Theo Điều 6 Nghị định 335, mức trợ cấp xã hội hằng tháng của từng đối tượng được xác định bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội nhân với hệ số tương ứng.
Riêng đối với người đơn thân nghèo nuôi con, hệ số được quy định là 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi.
Trong khi đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội theo Nghị định 335 là 540.000 đồng/tháng, tăng so với mức 500.000 đồng/tháng trước đây.
Theo cách tính này, người đơn thân nghèo đang nuôi 1 con đủ điều kiện được tính mức trợ cấp 540.000 đồng/tháng. Trường hợp đang nuôi 2 con đủ điều kiện, mức tương ứng là 1,08 triệu đồng/tháng; nếu có 3 con đủ điều kiện, con số tương ứng là 1,62 triệu đồng/tháng.
Điều này cũng có nghĩa 1,08 triệu đồng không phải mức trợ cấp tối đa chung cho người đơn thân nuôi con mà phụ thuộc vào số con thuộc diện được tính trợ cấp.
Ngoài ra, Nghị định cho phép trong trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương bảo đảm, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội hoặc mức trợ giúp áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chung được Chính phủ quy định.
Một điểm cần phân biệt là dù Nghị định 335 chính thức có hiệu lực từ 5/10/2026, mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng được áp dụng từ 1/7/2026 đối với những đối tượng đang hưởng chính sách và được chuyển tiếp sang mức tương ứng theo Nghị định mới. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát danh sách và quyết định chi trả theo mức mới kể từ thời điểm này.

Do đó, chính sách dành cho người đơn thân nghèo nuôi con không phải là một khoản trợ cấp hoàn toàn mới xuất hiện từ ngày 5/10. Điểm thay đổi đáng chú ý là mức chuẩn dùng để tính trợ cấp đã tăng từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng.
Hồ sơ nộp ở đâu, bao lâu được giải quyết?
Với người chưa hưởng chế độ nhưng cho rằng mình đáp ứng điều kiện, Nghị định 335 cũng quy định cụ thể hồ sơ và thủ tục thực hiện.
Theo Điều 7, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng gồm Tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội theo Mẫu số 01 ban hành kèm Nghị định.
Người thuộc đối tượng hoặc người giám hộ có thể gửi hồ sơ trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ, Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu nơi người đề nghị cư trú sẽ tổ chức xác thực thông tin với các cơ sở dữ liệu liên quan, thẩm định và quyết định việc trợ cấp. Nếu đủ điều kiện, thời gian hưởng được tính từ tháng Chủ tịch UBND cấp xã ký quyết định. Nếu không đủ điều kiện, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.