Sân bay quốc tế ở Việt Nam "trắng" chuyến bay quốc tế cả năm: Sẽ đầu tư mở rộng lên 12 triệu khách/năm?
Sân bay quốc tế ở Việt Nam cả năm không có chuyến bay quốc tế nào tiếp tục được điều chỉnh quy hoạch, hướng tới 12 triệu khách/năm vào 2050.
Bên cạnh định hướng mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ lên quy mô gần 730 ha để phục vụ 12 triệu lượt khách/năm vào năm 2050, dự thảo Quy hoạch chung TP. Cần Thơ thời kỳ mới còn thu hút sự chú ý khi đề xuất nghiên cứu bổ sung một sân bay mới ở khu vực phía Đông Nam, gắn với hành lang kinh tế biển Trần Đề.
Mở rộng sân bay hiện hữu: Chuẩn bị dư địa dài hạn cho cửa ngõ miền Tây
Tại Hội nghị lấy ý kiến đối với dự thảo đồ án Quy hoạch chung TP. Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 do UBND thành phố tổ chức sáng 16/9, phương án quy hoạch hạ tầng hàng không được xác định là mắt xích chiến lược nhằm định vị lại vai trò kết nối liên vùng và quốc tế của trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Theo dự thảo, Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ được định hướng dự trữ không gian đất đai để từng bước mở rộng quy mô lên khoảng 728,9 ha, hướng tới công suất thiết kế đạt khoảng 12 triệu hành khách/năm vào năm 2050. Việc giữ quỹ đất chiến lược này nhằm chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng kỹ thuật cho giai đoạn bùng nổ nhu cầu giao thương, logistics hàng không và du lịch trong nhiều thập niên tới.
Càng hàng không Quốc tế Cần Thơ được khánh thành vào ngày 01/01/2011, xây dựng nhà ga hành khách với tổng diện tích sàn 20.750m2, phục vụ 3 triệu khách/năm và kéo dài 600m đường hạ cất cánh (đạt tổng chiều dài 3000m), lắp đặt hệ thống đèn đêm, hệ thống hạ cánh chính xác ILS để tiếp nhận các loại máy bay thân rộng như B777-300ER, B747-400 và tương đương, nối Cần Thơ với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Dù giữ vị trí trung tâm của cả vùng Tây Nam Bộ, sản lượng khai thác thực tế nhiều năm qua vẫn chưa đạt kỳ vọng. Số liệu thống kê năm 2025 phản ánh rõ khoảng cách này: cảng chỉ phục vụ hơn 7.400 lượt chuyến bay cất, hạ cánh (đạt khoảng 86% kế hoạch) và đón hơn 1,13 – 1,14 triệu lượt hành khách (đạt khoảng 91% chỉ tiêu).
Toàn bộ lượng khách trong năm 2025 đều là khách nội địa, đánh dấu năm đầu tiên kể từ sau đại dịch COVID-19 sân bay không có bất kỳ chuyến bay quốc tế thương mại nào; phần lớn hành khách quốc tế đến miền Tây vẫn phải trung chuyển qua TP.HCM.
Do đó, mục tiêu vươn tới mốc 12 triệu lượt khách vào năm 2050 không chỉ là bài toán mở rộng hạ tầng đơn thuần, mà đòi hỏi các giải pháp căn cơ nhằm thu hút các hãng bay và mở rộng mạng đường bay quốc tế trực tiếp.
Nếu được phê duyệt và triển khai theo lộ trình, Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ sẽ có thêm dư địa để mở rộng các hạng mục hạ tầng, nâng cao năng lực khai thác tàu bay, đồng thời tăng khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa.
Đề xuất sân bay thứ hai: Lời giải cho hành lang kinh tế biển và siêu cảng Trần Đề
Một nội dung mới mẻ và mang tính đột phá trong dự thảo quy hoạch lần này là đề xuất nghiên cứu xây dựng thêm một sân bay mới ở phía Đông Nam thành phố Cần Thơ.
Đề xuất này xuất phát từ tầm nhìn tái cấu trúc không gian đô thị sau khi Cần Thơ hợp nhất với Hậu Giang và Sóc Trăng. Không gian phát triển mới của thành phố được kéo dài từ vùng đô thị trung tâm truyền thống trải dài tới vùng ven biển Trần Đề – khu vực được định vị là trung tâm kinh tế biển, cụm công nghiệp, logistics và là cửa ngõ cảng biển nước sâu xuất nhập khẩu của toàn vùng ĐBSCL.
Đơn vị tư vấn lập quy hoạch chỉ ra rằng, khoảng cách từ sân bay Cần Thơ hiện hữu đến khu vực kinh tế biển Trần Đề khá xa, rất khó bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận nhanh (dưới 40 phút di chuyển). Vì vậy, việc hình thành thêm một đầu mối hàng không tại vùng Đông Nam được đưa vào nghiên cứu với 3 phương án vị trí:
Phương án 1 (Ven biển Trần Đề - khu vực Sóc Trăng trước sáp nhập): Được đơn vị tư vấn đánh giá giàu tiềm năng nhất do kết nối trực tiếp với luồng giao thông sau cảng Trần Đề. Vị trí này mở ra cơ hội hình thành tổ hợp liên hoàn "Cảng biển nước sâu – Sân bay – Đường cao tốc – Đường sắt", tạo thành trung tâm logistics hàng hải - hàng không tích hợp quy mô lớn.
Phương án 2 (Khu vực phía Nam TP. Sóc Trăng cũ): Nằm liền kề nút giao giữa hai tuyến huyết mạch là cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và cao tốc CT33 (TP.HCM – Sóc Trăng), rất thuận lợi trong việc liên kết vùng đường bộ và kết nối hành lang kinh tế ven biển.
Phương án 3 (Cách sân bay Cần Thơ hiện hữu khoảng 30 km về phía Nam): Tọa lạc gần điểm giao giữa cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng, trục cao tốc Cần Thơ – Cà Mau và tuyến đường sắt tốc độ cao theo quy hoạch tương lai.
Đối với vùng ĐBSCL, sự kết hợp giữa hệ thống cảng biển nước sâu đón tàu trọng tải lớn cùng mạng lưới đường cao tốc và đường sắt tương lai sẽ tái định hình hoàn toàn dòng chảy hàng hóa và hành khách. Dù vậy, việc đưa một sân bay mới từ bản vẽ quy hoạch ra thực địa đòi hỏi quá trình đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả đầu tư công, tính liên kết vùng, phân bổ lưu lượng hành khách với các sân bay lân cận và khả năng huy động nguồn lực xã hội hóa.
Trước mắt, việc quy hoạch giữ đất và tạo dư địa để nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ lên công suất 12 triệu khách/năm vẫn là nhiệm vụ cốt lõi, bảo đảm vai trò đầu tàu dẫn dắt kinh tế của thành phố trung tâm vùng miền Tây trong suốt chu kỳ phát triển đến năm 2050.