Chuyển nhầm 100 triệu đồng vào tài khoản người lạ có lấy lại được không?
Nếu một người nhận được tiền do người khác chuyển nhầm, dù là 1 triệu, 10 triệu hay 100 triệu,...họ đều có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định pháp luật.
- Vì sao hộ kinh doanh, người dân phải cảnh giác trước biên lai chuyển tiền xác nhận thành công?
- Đỗ Thanh Nhã ở Cà Mau chuyển khoản 30.000.000 đồng vào tài khoản của một người ở Phú Thọ: Công an rà soát giao dịch
- Người sinh năm 2001, 1986, 1966: chỉ còn hơn 2 tháng để đổi căn cước mới, nếu không tài khoản ngân hàng bị tạm dừng giao dịch
Chuyển tiền qua ứng dụng ngân hàng ngày càng thuận tiện khi một giao dịch có thể hoàn tất chỉ trong vài giây. Tuy nhiên, sự nhanh chóng này cũng khiến những sai sót trong quá trình chuyển khoản trở nên khó xử lý hơn, đặc biệt khi tiền đã được ghi có vào tài khoản của người nhận.
Giả sử một người có nhu cầu chuyển 100 triệu đồng cho người thân nhưng nhập nhầm số tài khoản. Sau khi xác nhận giao dịch, ứng dụng ngân hàng thông báo chuyển tiền thành công. Đến khi kiểm tra lại thông tin, người này mới phát hiện số tiền đã được chuyển đến một tài khoản hoàn toàn xa lạ.
Trên thực tế, cần phân biệt giữa việc ngân hàng tiếp nhận yêu cầu tra soát và việc thu hồi được số tiền đã chuyển nhầm. Khi giao dịch đã hoàn tất và tiền được ghi có vào tài khoản người nhận, ngân hàng không mặc nhiên có quyền trích tiền từ tài khoản đó để hoàn trả chỉ dựa trên thông báo của người chuyển.
Điều này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền của chủ tài khoản và các quy định về xử lý giao dịch thanh toán. Việc xử lý khoản tiền chuyển nhầm phải có căn cứ pháp lý, tuân thủ quy trình tra soát, điều chỉnh sai sót và các thỏa thuận liên quan.
Vì vậy, ngay khi phát hiện chuyển nhầm, việc đầu tiên người chuyển tiền cần làm là liên hệ ngân hàng nơi mình mở tài khoản để yêu cầu tra soát giao dịch.
Người chuyển nhầm nên chuẩn bị đầy đủ thông tin, bao gồm thời điểm chuyển tiền, số tiền, số tài khoản thụ hưởng, mã giao dịch và chứng từ chuyển khoản. Đây là những căn cứ quan trọng để ngân hàng xác minh và phối hợp xử lý.
Trường hợp tiền được chuyển đến tài khoản tại ngân hàng khác, ngân hàng chuyển tiền có thể phải phối hợp với ngân hàng thụ hưởng để xác minh thông tin và thực hiện các bước xử lý phù hợp.
Đáng chú ý, việc ngân hàng tiếp nhận yêu cầu tra soát không đồng nghĩa với cam kết chắc chắn sẽ thu hồi được tiền. Kết quả phụ thuộc vào tình trạng giao dịch, nguyên nhân sai sót, sự phối hợp của các bên và căn cứ pháp lý áp dụng.
Theo Điều 6 Thông tư 15/2024/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải có cơ chế tiếp nhận, xử lý yêu cầu tra soát, khiếu nại của khách hàng. Quy định đặt ra thời hạn tiếp nhận yêu cầu tra soát tối thiểu 60 ngày kể từ ngày phát sinh giao dịch, đồng thời có các yêu cầu về thời hạn giải quyết khiếu nại.
Tuy nhiên, những thời hạn xử lý tra soát, khiếu nại không nên được hiểu là thời hạn ngân hàng bắt buộc phải lấy lại được khoản tiền do khách hàng tự chuyển nhầm.
Trên thực tế, khi phát hiện chuyển nhầm một khoản tiền lớn vào tài khoản người lạ, nhiều người không chỉ liên hệ ngân hàng mà còn tìm đến cơ quan công an để trình báo, đề nghị hỗ trợ xác minh và thu hồi tài sản.
Một vấn đề khác được nhiều người quan tâm là nếu người nhận không đồng ý hoàn trả thì người chuyển nhầm có mất trắng số tiền này hay không. Về nguyên tắc, câu trả lời là không. Việc tiền đã được chuyển vào tài khoản của người khác không có nghĩa người nhận đương nhiên trở thành chủ sở hữu hợp pháp của khoản tiền đó.
Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật, làm cho người khác bị thiệt hại, phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều 580 của Bộ luật này cũng quy định nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã nhận không có căn cứ pháp luật.
Như vậy, nếu một người nhận được tiền do người khác chuyển nhầm, dù là 1 triệu, 10 triệu hay 100 triệu,...họ đều có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định pháp luật. Việc người nhận đã rút tiền mặt hoặc sử dụng số tiền đó không đương nhiên làm chấm dứt nghĩa vụ hoàn trả.
Trường hợp người nhận không hợp tác, người chuyển nhầm có thể tiếp tục làm việc với ngân hàng, đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ giải quyết hoặc khởi kiện tại tòa án để yêu cầu hoàn trả tài sản khi có đủ căn cứ. Đặc biệt, hành vi cố tình chiếm giữ khoản tiền chuyển nhầm còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự.
Theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người cố tình không trả lại tài sản trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng bị giao nhầm, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu nhận lại theo quy định pháp luật, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Với tình huống chuyển nhầm 100 triệu đồng, đây là mức giá trị tài sản nằm trong phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 176.
Dù vậy, cần lưu ý không phải mọi trường hợp chậm hoàn trả tiền chuyển nhầm đều cấu thành tội phạm. Việc xác định trách nhiệm hình sự còn phụ thuộc vào hành vi cụ thể, yếu tố cố ý và các điều kiện pháp luật quy định.
Một tình huống phức tạp hơn là người nhận đã rút hoặc chuyển toàn bộ số tiền sang tài khoản khác. Trong trường hợp này, ngân hàng không thể đơn giản hoàn trả bằng cách trích tiền từ tài khoản đã không còn số dư. Tuy nhiên, người nhận vẫn có thể phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả bằng tài sản của mình theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, người chuyển nhầm cũng cần cảnh giác với các hình thức lừa đảo lợi dụng quá trình thu hồi tiền. Không nên cung cấp mật khẩu, mã OTP hoặc làm theo yêu cầu chuyển thêm tiền với lý do đóng phí xác minh, phí mở khóa hay phí hoàn trả.
Ngược lại, người bất ngờ nhận được khoản tiền không rõ nguồn gốc cũng không nên tự ý sử dụng hoặc chuyển trả theo hướng dẫn của người lạ. Cách an toàn là liên hệ ngân hàng để xác minh và phối hợp xử lý qua kênh chính thức, tránh nguy cơ chuyển tiền cho đối tượng giả mạo.
Trên thực tế, khi phát hiện chuyển nhầm một khoản tiền lớn vào tài khoản người lạ, nhiều người không chỉ liên hệ ngân hàng mà còn tìm đến cơ quan công an để trình báo, đề nghị hỗ trợ xác minh và thu hồi tài sản.
Sau khi tiếp nhận thông tin, cơ quan công an có thể tiến hành xác minh vụ việc theo thẩm quyền, phối hợp với ngân hàng và các bên liên quan để làm rõ nguồn gốc khoản tiền, người nhận và những tình tiết có liên quan. Tùy trường hợp, việc giải quyết có thể dẫn đến hoàn trả tự nguyện, tranh chấp dân sự hoặc xử lý theo quy định pháp luật nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm.