Lãi suất ngân hàng 25/9 tại Techcombank, MB, VPBank, Sacombank, HDBank, Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank,...

Theo An ninh tiền tệ
Chia sẻ

Khảo sát biểu lãi suất huy động trực tuyến tại 35 ngân hàng trong nước ngày 25/9 cho thấy mặt bằng lãi suất đang phân hóa ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Hơn 10 ngân hàng niêm yết từ 7%/năm tại kỳ hạn 12 tháng

Tại kỳ hạn 12 tháng, ACB đang niêm yết mức cao nhất với 7,8%/năm.

Tiếp theo là Sacombank ở mức 7,5%/năm; LPBank và Saigonbank cùng 7,2%/năm. VPBank và Bac A Bank cùng niêm yết 7,1%/năm.

Nhóm có lãi suất 7%/năm gồm MBV, OCB, PGBank, VCBNeo và VIB.

Như vậy, tại kỳ hạn 12 tháng, đã có nhiều ngân hàng đưa lãi suất lên từ 7%/năm trở lên, trong khi nhóm Big4 vẫn giữ mức 6,8%/năm.

Cụ thể, Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 6,8%/năm. BVBANK ở mức 6,9%/năm, còn MSB cũng ở mức 6,8%/năm.

Ở nhóm thấp hơn, Nam A Bank niêm yết 6,6%; BaovietBank và SHB cùng 6,5%; NCB 6,4%; MB 6,35%.

Mức thấp nhất trong bảng thuộc về SCB với 3,7%/năm.

Lãi suất ngân hàng 25/9 tại Techcombank, MB, VPBank, Sacombank, HDBank, Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank,...- Ảnh 1.

VPBank nổi bật với mức tăng ở kỳ hạn dài

VPBank là một trong những ngân hàng đáng chú ý nhất khi biểu lãi suất vừa được đẩy lên mặt bằng cao hơn. Ngân hàng đang niêm yết 7%/năm ở kỳ hạn 6 và 9 tháng, đồng thời lên 7,1%/năm ở kỳ hạn 12 và 18 tháng.

Việc đưa lãi suất kỳ hạn 12 tháng lên 7,1%/năm giúp VPBank đứng cùng nhóm với Bac A Bank và chỉ thấp hơn ACB, Sacombank, LPBank và Saigonbank.

Ở kỳ hạn 18 tháng, mức 7,1%/năm của VPBank cũng thuộc nhóm cao trên thị trường, chỉ thấp hơn Sacombank với 7,5%/năm và ngang LPBank.

Nếu tính trên khoản tiền gửi 100 triệu đồng trong 12 tháng và giả định lãi suất được giữ nguyên trong toàn bộ kỳ hạn, mức 7,1%/năm tương ứng khoảng 7,1 triệu đồng tiền lãi trước thuế, phí nếu có.

ACB vẫn dẫn đầu ở cả 6, 9 và 12 tháng

Không chỉ kỳ hạn 12 tháng, ACB cũng đang giữ vị trí cao nhất trong bảng tại các kỳ hạn 6 và 9 tháng.

Cụ thể, ngân hàng niêm yết 7,6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, 7,7%/năm ở 9 tháng và 7,8%/năm ở 12 tháng.

Ở kỳ hạn 6 tháng, Sacombank đứng sau với 7,2%/năm; Bac A Bank 7,05%; trong khi LPBank, MBV, VCBNeo và VPBank cùng ở mức 7%.

Tại kỳ hạn 9 tháng, Sacombank niêm yết 7,2%; Bac A Bank 7,05%; còn MBV, VCBNeo và VPBank cùng 7%.

Điều này cho thấy nhóm ngân hàng có lãi suất từ 7%/năm đang tập trung khá rõ ở các kỳ hạn trung hạn.

Kỳ hạn 18 tháng: Sacombank đứng đầu

Ở kỳ hạn 18 tháng, Sacombank dẫn đầu với mức 7,5%/năm.

LPBank và VPBank cùng niêm yết 7,1%/năm. Tiếp đến, MBV, VCBNeo và Saigonbank cùng ở mức 7%/năm.

Bac A Bank niêm yết 6,95%; OCB 6,9%; trong khi Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank, Nam A Bank và PGBank cùng ở mức 6,8%/năm.

Ở chiều ngược lại, SCB niêm yết 3,9%/năm, thấp nhất bảng.

Một điểm đáng chú ý là lãi suất không phải lúc nào cũng tăng theo kỳ hạn. Chẳng hạn, Techcombank niêm yết 6,75%/năm tại 12 tháng nhưng chỉ 5,85%/năm tại 18 tháng; VIB cũng từ 7%/năm ở 12 tháng xuống 5,9%/năm ở 18 tháng.

Big4 vẫn giữ cùng một mặt bằng lãi suất

Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 4,75%/năm ở kỳ hạn 3 tháng; 6,6%/năm ở 6 và 9 tháng; 6,8%/năm ở 12 và 18 tháng.

Như vậy, tại kỳ hạn 12 tháng, mức cao nhất 7,8%/năm của ACB đang cao hơn 1 điểm phần trăm so với nhóm Big4. Trong khi đó, VPBank với 7,1%/năm cao hơn 0,3 điểm phần trăm.

Lưu ý: Lãi suất trong bài là mức huy động niêm yết trực tuyến dành cho khách hàng cá nhân, tổng hợp theo biểu lãi suất ngày 25/9/2026. Lãi suất thực tế có thể khác tùy sản phẩm, số tiền gửi, kênh giao dịch, phương thức lĩnh lãi và điều kiện áp dụng của từng ngân hàng.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày