Với nhiều khán giả truyền hình đầu những năm 2000, Nguyễn Thành Vinh từng là chàng “Nam mọt sách” xuất hiện trong bộ phim Phía Trước Là Bầu Trời - vai diễn ngắn nhưng ấn tượng đến mức chính anh sau này được cộng đồng mạng gọi vui là “diễn viên có lịch sử diễn xuất ngắn nhất”. Trước đó không lâu, anh cũng là Á quân mùa đầu tiên của chương trình Đường Lên Đỉnh Olympia, đại diện cho thế hệ học sinh xuất sắc bước ra từ sân chơi trí tuệ lớn của Việt Nam.
Những dấu mốc ấy từng khiến cái tên Nguyễn Thành Vinh được nhớ đến như một hình mẫu học giỏi điển hình của tuổi học trò. Rời xa sự chú ý từ công chúng, anh rẽ sang một con đường lặng lẽ hơn nhưng anh cho rằng hợp với mình hơn cả là làm khoa học, vì không nhiều người biết rằng xen giữa Đường Lên Đỉnh Olympia và Phía Trước Là Bầu Trời, Nguyễn Thành Vinh là một trong bốn thành viên đại diện cho Việt Nam tranh tài tại Olympic Hoá quốc tế lần thứ 32 tại Đan Mạch và dành Huy chương Bạc.

Từ Á quân Olympia mùa đầu tiên...

Đến "Nam mọt sách" của Phía Trước Là Bầu Trời...

Và Giáo sư Đại học New South Wales (Australia) của hôm nay, mọi vai trò anh Nguyễn Thành Vinh đều làm rất trọn vẹn
Rời Việt Nam từ khi còn rất trẻ, trải qua hơn 25 năm học tập, nghiên cứu và giảng dạy tại Australia và châu Âu, Nguyễn Thành Vinh hôm nay là Giáo sư Hóa hữu cơ tại Đại học New South Wales (Australia), đồng thời vừa được The Australian vinh danh là một trong những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất Australia trong lĩnh vực này.
Sau hơn 2 thập kỷ gắn bó với nghiên cứu, anh nhìn khoa học như một hành trình bền bỉ của sự tò mò, thất bại và vô vàn lựa chọn, nơi mỗi phương pháp mới, mỗi phát hiện nhỏ đều có thể góp phần thay đổi cách con người tư duy, giải quyết các vấn đề của đời sống.
Trao đổi với chúng tôi trong dịp đầu năm, Giáo sư Nguyễn Thành Vinh đã chia sẻ về con đường làm khoa học ở môi trường quốc tế, sự liên kết, gắn bó sâu sắc với quê hương Việt Nam, cũng như những lát cắt đời thường ít khi được nhắc tới phía sau phòng thí nghiệm.

Chào GS. Nguyễn Thành Vinh, cuối năm 2025 vừa qua, anh đã được The Australian vinh danh là nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất Australia trong lĩnh vực Hóa hữu cơ. Ở góc nhìn của một nhà khoa học đã gắn bó với nghiên cứu hơn 25 năm, theo anh, “ảnh hưởng” trong khoa học thực sự được tạo nên từ điều gì?
Với mình, “ảnh hưởng” không chỉ nằm ở những con số khô khan như lượt trích dẫn hay chỉ số h-index (chỉ số đo lường mức độ ảnh hưởng học thuật của một nhà nghiên cứu), dù đôi khi chúng rất quan trọng để “flex” một chút với đồng nghiệp.
Sau 25 năm, mình nhận ra sức ảnh hưởng thực sự là khi nghiên cứu của bạn thay đổi được cách người khác tư duy hoặc giải quyết một vấn đề, đặc biệt là khi vấn đề đó góp phần nâng cao chất lượng sống của nhân loại. Giống như một bạn IT viết ra một đoạn code mẫu mà sau đó cả cộng đồng lập trình viên đều dùng để xây dựng những ứng dụng xịn sò hơn.
Trong lĩnh vực nghiên cứu của mình hiện tại, đó là khi phương pháp của bạn giúp việc tạo ra thuốc chữa bệnh hay vật liệu thông minh nhanh hơn, rẻ hơn và thân thiện với môi trường hơn.
Khi nhìn lại hành trình nghiên cứu của mình, có hướng nghiên cứu hay khoảnh khắc khoa học nào khiến anh cảm thấy đó là quyết định quan trọng nhất định hình sự nghiệp sau này?
Đó là năm thứ 3 đại học tại Đại học New South Wales (UNSW). Lúc đó mình đang học chương trình Hóa công nghiệp và đang định hình về kiểu tư duy quản lý công nghệ của nhà máy với các quy trình sản xuất khổng lồ. Nhưng khi bước vào phòng thí nghiệm Hóa hữu cơ, mình bị “say nắng” bởi khả năng kiến tạo phân tử của lĩnh vực này. Cảm giác khi làm việc trong ngành này là mình giống như một kiến trúc sư, nhưng thay vì xây nhà bằng gạch đá, mình xây các cấu trúc siêu vi bằng nguyên tử.
Khoảnh khắc nhìn thấy những tinh thể sản phẩm đầu tiên lấp lánh màu sắc đẹp đẽ trong ống nghiệm đã khiến mình “quay xe” 180 độ sang nghiên cứu thuần túy thay vì tiếp tục theo đuổi Hoá công nghiệp. Sau đó, mình làm luận văn nghiên cứu Tiến sĩ trong lĩnh vực Hoá hữu cơ và từ đó trở đi chung thuỷ với lĩnh vực này.
Nhiều người hình dung khoa học là chuỗi thành tựu liên tiếp, nhưng thực tế nghiên cứu thường đi kèm rất nhiều thất bại. Trong hành trình của mình, có giai đoạn nào anh từng cảm thấy bế tắc hoặc nghi ngờ con đường đã chọn?
Có chứ, nhiều là đằng khác! Đỉnh điểm là hồi làm Postdoc (nghiên cứu sau tiến sĩ) ở Đức. Suốt 6 tháng trời, mọi thí nghiệm mình làm đều ra một thứ “nhựa đen” đặc quánh, không xác định được là chất gì.
Lúc đó mình đã tự hỏi: “Hay là đôi bàn tay mình đã mất đi năng lượng ma thuật rồi? Hay là mình đã chọn sai ý tưởng và đề tài?”. Nhưng cái “máu lì” của người Việt đã cứu mình. Mình học cách chấp nhận rằng thất bại là một phần của công việc và mỗi chút kiến thức từ các mớ nhựa đen đó thực ra đang dạy mình cách để không thất bại lần sau.

Anh hiện là chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu lớn của Hội đồng Nghiên cứu Australia (ARC). Theo anh, thách thức lớn nhất để một nhà khoa học trẻ có thể tồn tại lâu dài trong môi trường nghiên cứu quốc tế là gì?
Thách thức lớn nhất chính là sự “độc lập”. Ở nước ngoài, không ai cầm tay chỉ việc. Bạn phải tự bơi, tự hình thành ý tưởng độc đáo, tự tìm kinh phí (grants), tự thành lập nhóm nghiên cứu, tự xây dựng thương hiệu cá nhân. Nó giống như bạn đang khởi nghiệp (startup) vậy, nhưng sản phẩm của bạn là tri thức.
Nếu không có tinh thần thép và sự kiên định, bạn rất dễ bị sóng đánh dạt vào bờ và không thể bơi ra biển lớn. Khi bạn đã trưởng thành từ quá trình này, thì sự “độc lập” trở thành tấm huân chương lấp lánh cho con đường bạn đã đi qua.

Các hướng nghiên cứu của anh tập trung vào hóa hữu cơ hiện đại, từ xúc tác, tổng hợp phân tử đến những ứng dụng trong y dược và vật liệu. Nếu một người không chuyên hỏi, anh sẽ nói những nghiên cứu của mình đang góp phần giải quyết những vấn đề gì trong đời sống hoặc tương lai?
Hãy tưởng tượng việc chế tạo thuốc hay vật liệu thông minh giống như việc lắp ráp một mô hình phi thuyền vũ trụ từ hàng triệu mảnh Lego siêu nhỏ. Nghiên cứu của mình là tạo ra những “siêu nam châm” (chất xúc tác) giúp các mảnh Lego đó tự hút nhau và vào đúng vị trí một cách chính xác tuyệt đối, nhanh và gọn. Mục tiêu cuối cùng là giúp ngành y dược tạo ra những loại thuốc hiệu quả hơn, ít tác dụng phụ hơn cho tương lai, hoặc chế tạo các vật liệu thông minh có tính ứng dụng cao trong đời sống con người.

Rời Việt Nam sau khi tốt nghiệp phổ thông và gắn bó với môi trường học thuật quốc tế suốt 25 năm, điều gì ở nước ngoài khiến anh phải thích nghi lâu nhất trong những ngày đầu?
Chắc chắn là việc phải tự ra quyết định cho cuộc đời mình mà không có “quyền trợ giúp” từ người thân. Trước đó ở Việt Nam, mình được bảo bọc khá kỹ dù trong điều kiện kinh tế phải nói là cũng hạn chế của gia đình, nhưng sang Úc năm 18 tuổi, từ việc chọn môn học, giao tiếp với các giáo sư đầu ngành, đến việc... đi chợ, nấu cơm hay phân chia ai rửa bát với bạn cùng nhà đều phải tự xử. Cái sự tự lập đột ngột đó vừa là cú sốc, vừa là quá trình cho mình những bài học lớn nhất cho sự trưởng thành.
Anh từng học tập và làm việc tại Australia, Đức và nhiều môi trường học thuật khác nhau. Theo trải nghiệm cá nhân của anh, đâu là sự khác biệt lớn nhất giữa đào tạo khoa học ở các quốc gia này?
Úc rất phóng khoáng, khuyến khích bạn “nghĩ khác đi” (thinking outside the box) và cho phép sự phản biện gay gắt với giáo sư, đồng nghiệp. Đức thì lại cực kỳ kỷ luật, tỉ mỉ và có chiều sâu học thuật kinh khủng để mọi người phải trang bị một cách thận trọng trước khi phát biểu ý kiến của mình. Nếu Úc cho mình đôi cánh để bay thì Đức cho mình bộ khung vững chắc để không bị rơi.
Ở thời điểm ngày đầu mới bước ra biển lớn, anh có bao giờ nghĩ mình sẽ đứng được ở vị trí như hôm nay hay mọi thứ anh có hôm nay, từ sự nghiệp nghiên cứu đến các “danh xưng” khiến người khác ngưỡng vọng, đều là một kịch bản cuộc đời được anh viết sẵn?
Hoàn toàn không! Cuộc đời mình không có kịch bản nào cả, cũng như tất cả mọi người khác thôi. Nếu có, chắc nó đã kết thúc sau vai diễn trong bộ phim Phía Trước Là Bầu Trời rồi. Mọi thứ mình có hôm nay là kết quả của việc cứ tập trung làm tốt nhất những gì mình có khả năng làm trước mắt, rồi cơ hội này sẽ dẫn đến cơ hội khác. Mình là người tin vào sự nỗ lực bền bỉ hơn là một bản kế hoạch định sẵn.
Được biết, dù không làm việc tại Việt Nam, nhiều năm qua anh vẫn âm thầm trực tiếp hướng dẫn hoặc gián tiếp hỗ trợ, định hướng và kết nối cho nhiều thế hệ sinh viên Việt Nam theo đuổi khoa học. Điều gì khiến anh luôn giữ sự gắn bó này?
Vì chính mình cũng từng là các bạn ấy. Mình hiểu cảm giác bơ vơ khi mới bước ra biển lớn. Hỗ trợ các bạn trẻ không chỉ là trách nhiệm, mà là cách mình trả món nợ ân tình với những người thầy đã giúp đỡ mình ngày xưa. Nhìn thấy một bạn trẻ Việt Nam thành danh ở nước ngoài, mình thấy hạnh phúc! Nhất là khi mình đã góp một tay vào quá trình trưởng thành của các bạn.

Qua quá trình đồng hành với sinh viên Việt Nam ở nước ngoài, anh nhận thấy các bạn trẻ Việt mạnh ở điểm nào và dễ gặp hạn chế lớn nhất ở đâu?
Điểm mạnh: Các bạn cực kỳ thông minh, giỏi lý thuyết cơ bản, lại rất nhạy bén với công nghệ và có nguồn thông tin khổng lồ.
Điểm yếu: Thường là sự tự ti trong giao tiếp và tư duy phản biện. Các bạn hay ngại nói lên ý kiến cá nhân trước đám đông hoặc trước những người có vị trí cao hơn.
Khoa học cần sự “ngang tàng” và dám sai thì mới có đột phá được. Tất nhiên, ranh giới giữa “ngang tàng” và “tự kiêu, bảo thủ” cũng rất hẹp.

GS. Nguyễn Thành Vinh (thứ 2 từ trái qua) chụp cùng các Tiến sĩ người Việt anh hướng dẫn tại UNSW
Là một người cũng từng đi qua giai đoạn chập chững bước vào con đường khoa học như các bạn trẻ hôm nay, đồng thời ở vị trí của một người thầy đang đào tạo nhiều thế hệ nghiên cứu sinh quốc tế, theo anh, điều quan trọng nhất mà sinh viên Việt Nam cần chuẩn bị nếu muốn theo đuổi con đường nghiên cứu lâu dài là gì?
Tiếng Anh phải thật xịn (vì đó là công cụ, là vũ khí), Tư duy phản biện phải thật sắc (để không bị dắt mũi) và một trái tim đầy sự tò mò (vì khoa học mãi mãi cần sự tò mò). Đừng học vì bằng cấp, hãy học vì bạn thực sự muốn biết thế giới này vận hành như thế nào và hãy ước mơ là mình có thể làm thế giới tốt đẹp hơn theo cách của mình.

Anh từng giành Huy chương Bạc Olympic Hóa học quốc tế và là Á quân Đường Lên Đỉnh Olympia mùa đầu tiên - những cột mốc học thuật mà nhiều phụ huynh Việt xem như “đỉnh cao thành tích” của tuổi học trò. Nhìn lại sau hơn hai thập kỷ, những danh hiệu sớm ấy đã giúp gì và cũng tạo ra những áp lực gì cho anh?
Các danh hiệu đó giúp mình có một xuất phát điểm tốt, nhưng cũng tạo ra áp lực nhất định. Thật sự mà nói, mình đã quên đi những danh hiệu đó từ lâu (và không hiểu sao mọi người cứ nhắc lại). Mình đã chuyển hóa áp lực trong quá khứ đó thành thực lực để làm tốt công việc trong cương vị hiện tại.
Những năm qua, anh có dịp gặp gỡ hay đồng hành cùng các đàn em bước ra từ các kỳ thi Olympic hoặc chương trình Đường Lên Đỉnh Olympia sang du học tại Australia không?
Mình có gặp gỡ một vài bậc đàn anh đàn chị thi cùng năm với mình. Họ là những con người rất trí tuệ và thú vị. Tiếc là mình không có dịp gặp gỡ các thế hệ về sau do yếu tố địa lý. Như trên đã nói, mình đã quên đi những danh hiệu này từ lâu, nên tìm kiếm một sự gặp gỡ các thế hệ sau của một gameshow truyền hình không có ý nghĩa nhiều bằng tạo dựng mối quan hệ tốt với những người sống quanh ta, có phải vậy không?
Trước khi trở thành Giáo sư hóa học, anh từng xuất hiện trong bộ phim Phía Trước Là Bầu Trời lên sóng năm 2001 và được nhiều khán giả vui gọi là “diễn viên có lịch sử diễn xuất ngắn nhất”. Sau 25 năm nhìn lại, ký ức ấy gợi cho anh điều gì về tuổi trẻ của mình? Đến thời điểm hiện tại, anh có còn giữ liên hệ với các diễn viên trong phim chứ?
Đó là một quãng thanh xuân rực rỡ và... ngây ngô của mình. Ký ức đó rất đẹp, nhưng công việc bây giờ của mình không có chút gì liên quan đến nghệ thuật. Do khoảng cách địa lý và công việc bận rộn, mình không có cơ hội gặp gỡ mọi người, nhưng thỉnh thoảng vẫn theo dõi tin tức và chúc mừng thành công của các anh chị em trong đoàn qua mạng xã hội.
Rất tuyệt vời là các anh chị đạo diễn, sản xuất, quay phim, hóa trang đạo cụ của bộ phim đều đã trở thành gạo cội trong nghề. Các bạn diễn viên trong đoàn đều có sự nghiệp nghệ thuật hoặc ngoài nghệ thuật rất tốt. Mình chỉ là một con mọt sách đi lạc vào thánh đường nghệ thuật trong giây lát.
Anh Vinh khá kín tiếng trên MXH nên ai cũng tò mò không biết ngoài phòng thí nghiệm và các công trình khoa học, cuộc sống đời thường của anh hiện nay diễn ra như thế nào?
Ngoài công việc nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu sinh và giảng dạy, mình là một ông chú trung niên “bình thường như cân đường hộp sữa”, sống một cuộc đời giản đơn, chân thành, dễ hiểu. Cuối tuần mình thích dành thời gian cho gia đình, cùng các con tham gia các hoạt động ngoài trời hay thể thao. Mình cũng đang trong “cuộc chiến” gìn giữ tiếng Việt cho hai con tại bàn ăn mỗi tối - một lĩnh vực khó không kém gì Hóa hữu cơ đâu.

Giữa nhịp sống và công việc nghiên cứu bận rộn tại Australia, anh còn giữ những sợi dây kết nối nào với Việt Nam? Trong tương lai, anh có hình dung mình sẽ “đi về” giữa Việt Nam và Australia nhiều hơn, hoặc tham gia những dự án hợp tác, đào tạo nào để hỗ trợ sinh viên Việt Nam theo đuổi con đường khoa học không?
Sợi dây đó chưa bao giờ đứt. Mình vẫn thường xuyên về Việt Nam tham gia phản biện, đào tạo và hợp tác nghiên cứu, đồng thời tuyển chọn và đào tạo rất nhiều nghiên cứu sinh Thạc sĩ/Tiến sĩ tại Lab của mình.
Tương lai, mình hy vọng sẽ có cơ hội “đi về nhà’ nhiều hơn, có thể tham gia vào những dự án mang tầm quốc gia để giúp xây dựng một hệ sinh thái khoa học chất lượng cao tại Việt Nam. Tham dự chương trình Xuân Quê Hương 2026 chính là một khởi đầu mới cho hành trình đó.

Cảm ơn những chia sẻ của Giáo sư và chúc anh một năm mới an khang, thịnh vượng, vạn sự như ý!
GS. Nguyễn Thành Vinh sinh năm 1982, từng là Á quân cuộc thi Đường Lên Đỉnh Olympia mùa đầu tiên và là thành viên đội tuyển Olympic Hóa học quốc tế Việt Nam, giành Huy chương Bạc. Từ năm 2001, anh học tập tại Australia, theo học ngành Hóa học công nghiệp tại Đại học New South Wales, sau đó bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành Hóa học hữu cơ tại Đại học Quốc gia Australia.
Hướng nghiên cứu của anh tập trung vào phát triển các phương pháp tổng hợp mới cho hợp chất tự nhiên, đồng thời thiết kế và tổng hợp các phân tử "chủ" kích thước lớn nhằm mô phỏng hệ dẫn truyền thuốc. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2010, anh sang Đức làm nghiên cứu sau tiến sĩ về xúc tác hữu cơ tại Đại học RWTH Aachen với học bổng danh giá Alexander von Humboldt.
Năm 2013, GS Vinh trở lại Australia, xây dựng nhóm nghiên cứu độc lập tại Đại học Curtin (Perth), trước khi gia nhập Đại học New South Wales (Sydney) vào năm 2015 với vai trò giảng viên và nghiên cứu viên thuộc chương trình ARC DECRA tại Trường Hóa học. Anh được bổ nhiệm Giảng viên cao cấp năm 2018, thăng hàm Phó Giáo sư năm 2022 và được phong hàm Giáo sư vào năm 2026.
Trong quá trình nghiên cứu, GS. Nguyễn Thành Vinh đã nhận nhiều giải thưởng uy tín, tiêu biểu như Giải thưởng Athel Beckwith Lectureship & Medal 2016 của Phân ban Hóa học Hữu cơ - Viện Hóa học Hoàng gia Australia; Giải thưởng ARC Discovery Early Career Researcher Award (2015-2018) và Giải thưởng của Tạp chí Hóa học Thieme dành cho các học giả trẻ xuất sắc năm 2014,...
Ảnh: Website nhóm nghiên cứu, VTV, UNSW