Việt Nam có một sĩ tử đỗ Trạng nguyên ở tuổi 50 nhờ nghe lời vợ

Theo Sức khoẻ cộng đồng
Chia sẻ

Từng bị thầy cho về vì học mãi không tiến bộ, Vũ Tuấn Chiêu đã có lúc muốn từ bỏ con đường khoa cử.

Trong lịch sử khoa cử Việt Nam, không phải sĩ tử nào cũng sớm thành danh. Có người dành cả tuổi trẻ cho đèn sách nhưng vẫn nhiều lần lỡ dở. Vũ Tuấn Chiêu là một trường hợp đặc biệt như vậy. Học hành không tiến bộ, từng bị thầy cho về làm ruộng, nhưng nhờ lời khuyên của vợ, ông quyết tâm quay lại trường học và cuối cùng đỗ Trạng nguyên ở tuổi gần 50.

Vũ Tuấn Chiêu, còn được gọi là Vũ Tuấn Thiều, quê làng Nhật Thiên, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, nay thuộc Hà Nội. Ông được xác định là người đỗ Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi năm 1475 dưới triều vua Lê Thánh Tông.

Thuở nhỏ, Vũ Tuấn Chiêu mồ côi cha, sau đó mẹ cũng qua đời. Hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến ông phải trở về quê nội. Tại đây, ông kết hôn với bà Chìa, một người phụ nữ đảm đang, vừa chăm lo gia đình, phụng dưỡng cha già, vừa làm ruộng, dệt vải và gánh gạo nuôi chồng ăn học.

Vũ Tuấn Chiêu đỗ trạng nguyên đời vua Lê Thánh Tông, trong khoa thi Ất Mùi (1475) (Ảnh minh hoạ)

Thế nhưng, con đường đèn sách của Vũ Tuấn Chiêu lại không thuận lợi. Ông học hơn 10 năm nhưng sức học vẫn không tiến bộ, dù tuổi đã ngoài 40 vẫn phải ngồi học cùng những học trò trẻ tuổi. Có lần, khi bà Chìa gánh gạo đến nơi chồng học, thầy giáo gọi bà lại và khuyên nên đưa chồng về nhà làm ruộng, bởi ông đã nhiều tuổi mà việc học vẫn không tiến triển.

Hai vợ chồng đành thu xếp sách vở trở về. Trên đường về, khi dừng chân bên một cây cầu đá, Vũ Tuấn Chiêu nhìn thấy những cột đá dưới chân cầu bị nước bào mòn theo thời gian và tỏ ra ngạc nhiên. Bà Chìa liền giải thích rằng dòng nước vốn mềm nhưng chảy mãi cũng có thể làm mòn đá, từ đó khuyên chồng rằng làm bất cứ việc gì, nếu có ý chí, kiên trì và nhẫn nại thì cuối cùng cũng có thể thành công.

Lời nói của vợ khiến Vũ Tuấn Chiêu như tỉnh ngộ. Ông bảo vợ trở về nhà, còn mình quay lại xin thầy cho tiếp tục việc học. Khi thầy hỏi lý do, ông lấy chính câu chuyện “nước chảy đá mòn” để khẳng định quyết tâm dùi mài kinh sử, trước là không phụ công thầy dạy, sau là đền đáp công sức của vợ và thực hiện chí hướng của bản thân.

Để thử quyết tâm của học trò, thầy đồ ra một vế đối: “Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ”. Vũ Tuấn Chiêu suy nghĩ rồi đối lại: “Ầm ì sấm động đất Xuân Lôi”. Câu đối chỉnh tề khiến thầy hài lòng và đồng ý cho ông ở lại tiếp tục học.

Từ đó, Vũ Tuấn Chiêu thực sự thay đổi. Ông chuyên tâm đèn sách, sức học ngày càng tiến bộ. Trong những năm chồng theo học, bà Chìa vẫn một mình lo việc gia đình, chăm con, làm ruộng và đều đặn gánh gạo, mang dầu thắp đèn đến nơi chồng trọ học.

Bài văn sách của Vũ Tuấn Chiêu tại kỳ thi Đình hiện được cho là còn lưu trong gia phả họ Vũ ở Nhật Tân (Ảnh minh hoạ)

Đến khi Vũ Tuấn Chiêu gần 50 tuổi, bà Chìa qua đời. Sau khi vợ mất, ông đưa con trở về quê ngoại để tiếp tục việc học và chuẩn bị cho kỳ thi. Đến khoa thi Ất Mùi năm 1475, những nỗ lực kéo dài nhiều năm cuối cùng cũng được đền đáp khi Vũ Tuấn Chiêu đỗ Trạng nguyên.

Ông trở thành một trong ba vị Trạng nguyên được biết đến là đỗ đạt khi khoảng 50 tuổi trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, cùng Nguyễn Đức Lượng, đỗ năm 1514, và Nguyễn Xuân Chính, đỗ năm 1637.

Tuy nhiên, Vũ Tuấn Chiêu không chỉ gây chú ý bởi tuổi đỗ đạt mà còn bởi tài năng thể hiện trong kỳ thi Đình. Theo các tư liệu được lưu truyền, năm ấy ông cùng Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt được đánh giá là những sĩ tử có bài thi xuất sắc. Vua Lê Thánh Tông thấy tài năng của ba người khó phân định nên đưa thêm một câu đố để thử sức.

Khi hai người còn lại đang suy nghĩ, Vũ Tuấn Chiêu nhanh chóng đoán được đáp án là chữ “Nhất”. Sự nhanh nhạy này khiến vua Lê Thánh Tông hài lòng và quyết định xếp ông ở vị trí cao nhất trong Tam khôi, ban học vị Trạng nguyên. Ông Nghĩa Đạt đỗ Bảng nhãn, còn Cao Quýnh đỗ Thám hoa.

Bài văn sách của Vũ Tuấn Chiêu tại kỳ thi Đình hiện được cho là còn lưu trong gia phả họ Vũ ở Nhật Tân. Nội dung thể hiện những kiến giải của ông về việc trị quốc, trong đó nhấn mạnh muốn đất nước vững mạnh phải có quân đội mạnh, tướng giỏi, đồng thời muốn dân giàu phải thực hành tiết kiệm, giảm những khoản chi tiêu không cần thiết và lựa chọn người có tài, có đức để cai quản.

Sau khi đỗ đạt, Vũ Tuấn Chiêu ra làm quan, từng giữ chức Lại bộ Tả thị lang. Ông được biết đến là người có lòng thương dân và được người đương thời kính trọng. Về sau, ông tục huyền và có thêm bốn người con trai.

Cuộc đời Vũ Tuấn Chiêu vì thế thường được nhắc đến không chỉ như câu chuyện về một vị Trạng nguyên đỗ đạt khi tuổi đã cao, mà còn là câu chuyện về sự kiên trì và vai trò của người vợ phía sau thành công của một sĩ tử. Nếu không có lời khuyên “nước chảy đá mòn” năm nào, có lẽ con đường khoa cử của ông đã dừng lại ngay trước khi chạm tới bảng vàng.

Tại nhà thờ Vũ Tuấn Chiêu ở Nam Hùng, Nam Trực, Nam Định cũ hiện vẫn còn bia ghi hành trạng cùng nhiều câu đối ca ngợi sự nghiệp của ông. Trong đó có câu: “Hồng Đức văn chương khôi nhất giáp/Xuân Lôi trở đậu lịch thiên thu”, có thể hiểu là: “Đời Hồng Đức văn chương nêu nhất giáp/Đất Xuân Lôi thờ cúng nghìn thu”.

Tổng hợp

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày