Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu: Kịch bản có duyên, diễn xuất có tầm, không là siêu phẩm thì cũng đáng tiền
Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu là nơi quá khứ và hiện tại được chữa lành, đưa khán giả đi từ những tiếng cười sảng khoái đến lặng người vì xúc động.
Đường đua điện ảnh Việt dịp đại lễ Quốc khánh 2/9 đã mở màn với Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu của Huỳnh Lập. Bằng việc chủ động mở các suất chiếu sớm, bộ phim nhanh chóng vươn lên vị trí top 1 doanh thu phòng vé và bỏ túi hơn 9 tỷ đồng chỉ hơn 1 ngày mở bán vé sớm. Câu chuyện mới của Huỳnh Lập len lỏi vào trái tim người xem bằng một lối kể chuyện nhẹ nhàng nhưng chất chứa nhiều suy ngẫm. Khởi đầu bằng những thanh âm rộn rã, mang hơi thở hiện đại của thế hệ Gen Z, phim dần dịch chuyển khéo léo để chạm vào những góc khuất của quá khứ, nơi những vết sẹo tâm lý của người lính hậu chiến dần được bóc tách. Khi xem, khán giả có thể cảm nhận đây là bộ phim dung dị về tình thân và lòng biết ơn, để rồi lặng người và đọng lại nhiều dư âm khi ánh đèn rạp chiếu bóng tắt.
Câu chuyện thú vị được kể qua lối diễn tự nhiên, duyên dáng
Chuyện phim theo chân Trí Bình (Cody Nam Võ), một chàng trai Gen Z điển hình với hoài bão khởi nghiệp mở quán cà phê nhưng thiếu vốn. Bình quyết định về quê, mục đích là thuyết phục ông nội - ông Thời (NSƯT Cao Minh) - cho mượn mảnh đất có vị trí đắc địa. Thế nhưng, kế hoạch của Bình ngay lập tức vấp phải bức tường thành kiên cố vì ông Thời là một cựu chiến binh sống cực kỳ nghiêm khắc, kỷ luật và bảo thủ.
Cuộc sống chung dưới một mái nhà trở thành một chuỗi những va chạm về lối sống, tư duy tư bản của người trẻ và chủ nghĩa tập thể, hà khắc của người già. Mọi chuyện dần rẽ sang hướng ly kỳ khi Bình liên tục chứng kiến những hành vi bất thường, ma mị của ông nội vào ban đêm. Nghi ngờ ông bị "ma nhập", Bình bắt đầu hành trình điều tra, để rồi từ đó, một quá khứ đau thương gắn liền với bom đạn và những đồng đội đã khuất của ông nội dần được hé lộ.
Một trong những thành công đầu tiên của bộ phim có thể nói là nằm ở khâu chọn diễn viên. NSƯT Cao Minh đã có một màn hóa thân xứng đáng gọi là điểm tựa cho toàn bộ tác phẩm. Vào vai ông Thời - một cựu chiến binh mang trong mình Hội chứng hậu sang chấn tâm lý (PTSD) - nam nghệ sĩ không cần dùng đến những lời thoại đao to búa lớn. Sự lão luyện và nhập tâm của ông nằm ở những chi tiết nhỏ như ánh mắt cô đơn, tác phong quân đội nghiêm túc, diễn xuất "điên loạn" khi "bị ma nhập", hay nụ cười đón nhận hơi ấm từ con cháu cho đến giọt nước mắt, cái nhíu mày đau thương mỗi khi ký ức xưa bị khơi lại.
Ở ông, có thể thấy hình ảnh của một người đàn ông thô ráp như đá tảng bọc ngoài một trái tim chứa đựng sự tổn thương, day dứt chưa bao giờ nguôi từ thời chiến và lòng thương con cháu thầm lặng. Từng phân cảnh nhân vật này đối diện với ký ức về những đồng đội đã khuất được ông xử lý tinh tế, khiến người xem nghẹn ngào vì cảm nhận được nỗi đau quá khứ đang gặm nhấm nhân vật từng ngày, thấy thương hơn là thấy sợ.
Nếu NSƯT Cao Minh là bảo chứng cho chiều sâu thì Cody Nam Võ là một bất ngờ của Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu. Nhận một vai chính ngay trong lần đầu tiên chạm ngõ màn ảnh rộng, Cody đã chưng minh bản thân bằng một màn trình diễn duyên dáng và tràn đầy năng lượng tươi mới. Vào vai Trí Bình - đứa cháu trai non dại bộp chộp, thực dụng, mang tư duy làm giàu nhanh nhưng bản chất lương thiện, Cody không hề bị rập khuôn vào kiểu "người trẻ nổi loạn" đáng ghét. Anh chàng có nét diễn tự chân thật bởi chính bản thân anh cũng ngây ngô với nhiều chi tiết xuất hiện trong kịch bản.
Bất ngờ hơn là khi nhân vật chuyển biến tâm lý từ một kẻ ích kỷ sang thấu hiểu và yêu thương ông, Cody không hề bị lép vế trước NSƯT Cao Minh. Những phân cảnh Bình khóc vì nhận ra sự bí mật của ông nội, hay mếu máo vì thương ông đều được Cody xử lý mượt mà. Nhìn chung, cả hai ông cháu đã có một màn "tung hứng" với phản ứng hóa học tự nhiên, xứng đáng làm trung tâm của bộ phim.
Bên cạnh cặp đôi chính, các tuyến nhân vật phụ của Hồng Ánh, Hứa Vĩ Văn, Tín Nguyễn hay chính Huỳnh Lập đều hoàn thành trọn vẹn vai trò của mình để hoàn thiện bức tranh tổng thể. Sự kết hợp giữa nét hài duyên dáng của Tín Nguyễn, Huỳnh Lập và sự đằm thắm, sâu sắc của những gương mặt kỳ cựu giúp bộ phim luôn giữ được sự cân bằng, không có nhân vật nào bị thừa thãi hay mờ nhạt.
Mảng miếng hài duyên dáng, tự nhiên
Là một đạo diễn đi lên từ sân khấu thế mạnh hài kịch, Huỳnh Lập thể hiện sự trưởng thành trên màn ảnh rộng khi kiểm soát các mảng miếng một cách tinh tế và tiết chế. Tiếng cười trong phim được xây dựng dựa trên sự xung đột văn hóa và những câu thoại chơi chữ hay ho.
Trong đó, Huỳnh Lập khai thác triệt để sự lệch pha trong đời sống hằng ngày của hai ông cháu để tạo ra những tình huống "dở khóc dở cười". Một bên là người cháu trai có tư duy hiện đại nhưng ngây thơ và vụng về, quen sống sung sướng. Một bên là lối sống kỷ luật thép, nghiêm túc và hoài cổ - từ việc thức dậy lúc 5 giờ sáng, gấp chăn màn vuông vức như vuông gạch, đến thói quen tích trữ những món đồ cũ kỹ của ông Thời - lại trở thành nỗi "ác mộng" kinh hoàng với một Gen Z phóng khoáng. Những màn đối thoại đối chan chát, cãi bướng nhưng đầy lý lẽ của tuổi trẻ đối đầu với sự bảo thủ đầy trải đời của người già được viết rất thực tế.
Lời thoại của phim cũng tự nhiên, gần gũi như chính nhân vật chứ không mang cảm giác bị kịch bản hóa, và những pha chơi chữ cũng khiến khán giả "hết hồn" vì sự sáng tạo, không cần cao siêu nhưng đủ để người xem bật cười thành tiếng.
Sự xuất hiện của Tín Nguyễn và Huỳnh Lập mang đến những phân đoạn "cứu nguy" cho mạch phim khi có dấu hiệu căng thẳng. Lối diễn hài tỉnh rụi, nhấn nhả câu chữ bắt trend mạng xã hội rất thông minh của Tín Nguyễn kết hợp cùng nét diễn linh hoạt, giỏi tạo tình huống của Huỳnh Lập đã tạo nên những phút giây thoải mái. Và cái hay của phim là biết dừng đúng lúc. Các mảng miếng hài chỉ đóng vai trò làm mềm câu chuyện, tạo bầu không khí gần gũi, ấm áp chứ không hề bị lố lăng hay lấn lướt đi thông điệp chính.
Những thông điệp đẹp đẽ
Khi nhịp phim quay ngược về quá khứ, bộ phim nhường chỗ cho những thước phim lịch sử bi tráng và khốc liệt. Huỳnh Lập không thần thánh hóa mà để họ hiện lên gần gũi, dung dị. Họ là những chàng trai mười chín, đôi mươi, mang theo tình yêu quê hương hồn nhiên bên cạnh những ước mơ tuổi trẻ còn dang dở, cùng nhau đàn hát, sinh hoạt, lăn xả để hết mình chống giặc và làm điểm tựa tinh thần cho nhau, bảo vệ nhau. Tình đồng đội, đồng chí ở đây được khắc họa thiêng liêng như tình máu mủ. Sự gắn kết bền chặt đã giải thích cho lý do cho nỗi đau âm ỉ theo ông Thời suốt phần đời còn lại bởi sự ra đi của họ trở thành một khoảng trống không thể lấp đầy, một nỗi đau âm ỉ và day dứt vì không thể đưa những đồng chí của mình "về nhà". Những trận chiến trong phim cũng được tái hiện một cách chân thực với khói lửa, bom đạn, mang lại hiệu ứng cảm xúc mạnh mẽ, khiến người xem thực sự thấu hiểu được cái giá quá đắt của hòa bình.
Vượt lên trên một tác phẩm phản ánh góc khuất hậu chiến, bộ phim cũng nhấn vào tình cảm gia đình sâu sắc. Đó là tình cảm ông - cháu, khi sự bướng bỉnh của Gen Z được thuần hóa bằng tình yêu thương thầm lặng và góc khuất của người ông già. Đó là sự hiếu thảo của người con luôn đau đáu tìm cách chữa lành vết thương lòng cho bố. Đó còn là tình làng nghĩa xóm, những mối quan hệ của những con người không cùng máu mủ ruột thịt nhưng hết mình sự bao bọc, quan tâm lẫn nhau tạo nên thứ tình cảm mà người ngoài xem vào cũng bị rung động theo.
Bên cạnh tình cảm gia đình, Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu còn là một lời nhắc nhở về giá trị vô giá của hai tiếng "hòa bình" mà thế hệ sau đang được thừa hưởng. Bộ phim không rao giảng những bài học lịch sử khô khan mà để người xem tự nhìn nhận hòa bình thông qua những mất mát và nỗi đau thời hậu chiến. Cuộc sống yên bình, tự do chạy theo những hoài bão khởi nghiệp như người cháu Trí Bình ngày hôm nay chính là ước mơ dang dở của biết bao người lính trẻ đã nằm lại nơi chiến trường năm xưa. Nhìn vào những giằng xé tâm lý và cuộc sống hậu chiến đầy ám ảnh của ông Thời, khán giả mới thực sự thấm thía rằng: hòa bình không đơn thuần là sự im tiếng súng đạn mà nó được đánh đổi bằng máu xương, bằng cả thanh xuân và những vết sẹo tinh thần không bao giờ lành của một thế hệ cha ông. Thông điệp ấy như một sợi dây vô hình kết nối quá khứ với hiện tại, đánh thức lòng biết ơn và trách nhiệm sống cống hiến trong mỗi người trẻ khi bước ra khỏi rạp.
Nửa sau ôm đồm và sự hạn chế về kỹ xảo
Bên cạnh những điểm mạnh thì Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu vẫn vấp phải những điểm lấn cấn đáng tiếc ở khâu kiểm soát nhịp điệu, đặc biệt là khi bước vào nửa sau của tác phẩm khi ôm đồm quá nhiều tình huống. Huỳnh Lập đã cố gắng đan xen liên tục giữa thực tế đời thường và các hiện tượng tâm linh với ý muốn nêu cao thông điệp rằng rằng người chiến sĩ đã ngã xuống năm xưa thực chất chưa từng rời đi, họ vẫn luôn ở bên cạnh để bảo vệ, chở che và dẫn lối cho người ở lại. Tuy nhiên, có lẽ vì thời lượng có hạn mà việc tung hứng liên tục giữa hai lăng kính thực - ảo khiến mạch phim đôi chỗ bị loạn. Khán giả chưa kịp thẩm thấu hết nỗi đau thực tế của nhân vật thì đã bị kéo vào không gian tâm linh, tạo cảm giác gượng ép.
Sự ôm đồm này cũng vô tình đẩy tuyến tình cảm của phim càng về cuối càng trở nên dồn dập như đang "chạy deadline". Các nút thắt, mâu thuẫn giữa hai ông cháu hay câu chuyện của những người xung quanh bị “gom” lại quá nhiều. Các tình tiết này không thừa, thậm chí rất có giá trị về mặt nội dung nhưng nếu thời lượng phim được kéo dài hơn để các phân cảnh này có thêm khoảng để "thở", tránh cảm giác nhồi nhét thì trải nghiệm của người xem chắc chắn sẽ trọn vẹn hơn rất nhiều.
Bên cạnh sự chênh vênh về nhịp điệu, khâu hiện thực hóa các yếu tố tâm linh cũng còn khá sượng trân, cơ bản. Những đoạn mô tả ảo ảnh, hiện tượng huyền bí trông chưa đủ độ chân thực, phần màu phim cũng bị “gắt” quá đà tạo cảm giác quá ảo - dù là để highlight yếu tố tâm linh. Tuy nhiên, đây là những hạn chế về mặt thị giác, không mấy ảnh hưởng đến cảm xúc khi xem.
Chấm điểm: 3,5/5
Nhìn chung, Nghỉ Hè Sợ Nghỉ Hưu là một tác phẩm điện ảnh tử tế, có tư duy và chạm được vào lòng trắc ẩn của người xem. Phim xứng đáng để ra rạp thưởng thức, nhất là khi phim chiếu vào dịp lễ 2/9. Huỳnh Lập đã chứng minh được sự trưởng thành khi dám thử thách bản thân ở một đề tài khó, đòi hỏi sự cân bằng giữa tiếng cười và những giá trị lịch sử bên cạnh yếu tố tâm linh đã là “signature” của anh. Bộ phim khép lại nhưng dư âm về sự thấu hiểu giữa các thế hệ, về tình cảm gia đình, về tình làng nghĩa xóm và lòng biết ơn thế hệ cha ông đã hi sinh vì thời bình vẫn sẽ còn đọng lại trong tâm trí của người xem.