Lời giải cho Việt Nam trước "làn sóng phim ngắn AI tràn bờ"

Theo Tiền phong
Chia sẻ

Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng

Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. Việt Nam đã có những quy định về phổ biến phim trên mạng để làm cơ sở thực hiện.

Điều cần bàn ở đây là áp dụng các quy định ấy thế nào cho hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện cho những sản phẩm có chất lượng đến với khán giả.

Hậu kiểm phải theo kịp tốc độ phát hành

Trên thực tế, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ VHTTDL) đã có nhiều giải pháp để kiểm soát, ngăn chặn những phim ngắn, video ngắn độc hại.

Theo Cục trưởng Lê Quang Tự Do, Cục đã phối hợp với các cơ quan liên quan để đề xuất giải pháp xử lý phim ngắn có nội dung độc hại trên cơ sở pháp luật hiện hành của Việt Nam, trong đó có Luật An ninh mạng.

Các giải pháp tập trung vào tăng cường trách nhiệm kiểm soát nội dung của nền tảng và phối hợp liên ngành trong rà soát, chấn chỉnh hoạt động phổ biến phim ngắn.

Với phim AI, việc xác định trách nhiệm tương đối phức tạp, nhất là khi các bên tham gia ở nhiều quốc gia.

Trước thực trạng phim chiếu mạng phát triển nhanh, trong đó có phim AI, ngày 25/9, Cục Điện ảnh ban hành Công văn số 1919/ĐA-VP, do Cục trưởng Đặng Trần Cường ký, về chấp hành quy định phổ biến phim trên không gian mạng, trong đó nêu tình trạng một số tổ chức, cá nhân chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ các điều kiện, thủ tục theo pháp luật về điện ảnh.

Công văn gửi tới các chủ thể phổ biến phim trên mạng và tổ chức, doanh nghiệp quản lý, vận hành nền tảng truyền thông số, nền tảng trung gian hoặc kho ứng dụng có cung cấp phim, ứng dụng phổ biến phim tại Việt Nam.

Cục Điện ảnh nêu rõ trước khi phổ biến, chủ thể phải bảo đảm điều kiện phân loại, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung và kết quả phân loại. Các điều kiện gồm có hội đồng, phần mềm kỹ thuật hoặc cơ chế phân loại theo quy định Việt Nam, phương án sửa đổi, cập nhật kết quả, phương án kỹ thuật và quy trình tạm dừng, gỡ bỏ phim theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp chưa bảo đảm điều kiện, chủ thể phải đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan được Bộ ủy quyền phân loại đối với phim chưa có Giấy phép phân loại phim hoặc Quyết định phát sóng. Công văn còn yêu cầu thông báo danh sách phim và kết quả phân loại qua Hệ thống dữ liệu về phân loại phim trên không gian mạng trước khi phổ biến, hiển thị mức phân loại, cảnh báo, áp dụng biện pháp kỹ thuật bảo vệ trẻ em và để người dùng báo cáo phim vi phạm.

Như vậy, không thể mặc nhiên áp quy trình cấp phép phim chiếu rạp cho mọi phim mạng. Cơ chế tự phân loại gắn với hậu kiểm vẫn đặt ra những nghĩa vụ phải hoàn thành trước khi phát hành.

Bình luận về cơ chế này, luật sư Nguyễn Trọng Hoàng (Đoàn Luật sư Hà Nội) nhấn mạnh trách nhiệm của đơn vị phổ biến phim: “Điều cần làm rõ là ai chịu trách nhiệm về bản phim đã phát hành, phân loại dựa trên căn cứ nào và có thực hiện biện pháp bảo vệ trẻ em hay không. Hậu kiểm chỉ có sức nặng khi xác định được chủ thể chịu trách nhiệm và buộc họ khắc phục vi phạm”.

Luật sư Trọng Hoàng cho rằng trên cơ sở hệ thống dữ liệu đã có, có thể đề xuất bổ sung khả năng theo dõi phiên bản phát hành và lịch sử khắc phục. Khi phim bị sửa, đổi tên hoặc đăng lại, dữ liệu đối chiếu sẽ hỗ trợ truy trách nhiệm.

Theo các chuyên gia, điều cần làm rõ là ai chịu trách nhiệm về bản phim đã phát hành, phân loại dựa trên căn cứ nào và có thực hiện biện pháp bảo vệ trẻ em hay không.

“Kiểm tra nên ưu tiên dấu hiệu rủi ro như phản ánh có chứng cứ, nguy cơ đối với trẻ em hoặc hành vi tái phạm. Công cụ tự động hỗ trợ sàng lọc, quyết định xử lý cần căn cứ rõ ràng và cơ chế giải trình. Nhãn nhận diện AI cũng cần được phân biệt với phân loại độ tuổi: biết phim do máy tạo ra không đồng nghĩa phim phù hợp với mọi khán giả”, ông Hoàng phân tích.

Nền tảng cũng không thể đứng ngoài trách nhiệm quản lý nội dung phim được cung cấp trên hệ thống của mình, trong phạm vi nghĩa vụ mà pháp luật quy định".

Luật sư Nguyễn Trọng Hoàng, Đoàn Luật sư Hà Nội.

Trước đó, khi những phim ngắn, web-drama đề tài “tổng tài” xuất hiện với mật độ dày đặc trên mạng xã hội với nhiều nội dung khác nhau, tại Họp báo thường kỳ quý III/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử - ông Lê Quang Tự Do - cho biết nội dung phim ngắn trên mạng xã hội được xem xét, xử lý nội dung theo Nghị định 147. Tuy nhiên, rất khó để xác định thế nào là vi phạm pháp luật đối với loại phim này.

Luật sư Nguyễn Trọng Hoàng nhắc lại Luật Điện ảnh 2022 đã quy định rõ việc phổ biến phim trên không gian mạng phải thực hiện phân loại và hiển thị kết quả phân loại.

“Pháp luật đặt trách nhiệm lên chính chủ thể phổ biến phim, thay vì chờ cơ quan quản lý phát hiện từng sản phẩm rồi mới xử lý. Với số lượng rất lớn nội dung được đưa lên mỗi ngày, nếu tất cả đều chờ cơ quan quản lý đi tìm thì cuộc chạy đua ấy chắc chắn không cân sức. Trách nhiệm không thể đẩy hết về phía các cơ quan quản lý”, luật sư nhấn mạnh.

Trách nhiệm đi cùng quyền phân phối và thu tiền

Với phim do chủ thể chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện và nghĩa vụ liên quan, Cục Điện ảnh đề nghị nền tảng kịp thời ngăn chặn, không tiếp tục cung cấp, phổ biến, yêu cầu khắc phục, hoàn thiện điều kiện, thủ tục trước khi tiếp tục. Nền tảng còn phải phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Bắt đầu từ đây, bài toán quản trị cần được mở rộng tới cách phim tiếp cận khán giả và tạo doanh thu. Bởi một sản phẩm được phân loại đúng vẫn có thể phát sinh tranh chấp về quảng cáo, thu phí hoặc gia hạn. Mỗi vấn đề cần được xác định theo hành vi và trách nhiệm cụ thể.

Luật sư Nguyễn Trọng Hoàng cho rằng: “Trách nhiệm cần tương xứng với quyền kiểm soát thực tế. Đơn vị quyết định đề xuất nội dung, thiết kế gói dịch vụ và thu tiền phải giải trình về phần việc của mình. Khán giả cần biết họ giao dịch với ai và yêu cầu xử lý ở đâu”.

Đến thời điểm hiện tại, Cục Điện ảnh đã chỉ định bà Nguyễn Mai Anh - Phó Chánh Văn phòng Cục - làm đầu mối hướng dẫn tuân thủ, tiếp nhận phản ánh. Điều này cũng có nghĩa các bên liên quan đều có thể đề xuất quy trình phối hợp với cơ quan bảo vệ người tiêu dùng và các đơn vị liên quan, có thời hạn phản hồi, theo dõi kết quả. Tranh chấp thanh toán phải được chuyển đúng thẩm quyền.

Phân tích về quyền lợi người xem, luật sư Nguyễn Trọng Hoàng cho rằng trước hết cần làm rõ cách nền tảng thu tiền, từ hiển thị giá, quy đổi xu đến điều kiện gia hạn và thủ tục hủy dịch vụ.

Người dùng cần biết mình đang trả bao nhiêu, cho dịch vụ nào và làm thế nào để dừng thanh toán. Theo hướng đó, có thể yêu cầu nền tảng thông báo trước kỳ thu phí, bổ sung công cụ đặt hạn mức và tổng hợp chi tiêu để người xem dễ theo dõi. Với trẻ em, cần kiểm tra liệu bước xác nhận của phụ huynh có thực sự giúp kiểm soát giao dịch hay chỉ mang tính hình thức.

Luật Trí tuệ nhân tạo đã đặt ra trách nhiệm minh bạch, nhận diện nội dung AI, việc triển khai với phim cần hướng dẫn đủ cụ thể để người xem nhận biết.

Ở khâu phân phối, luật sư đề xuất nền tảng báo cáo rõ cách hạn chế đề xuất nội dung vi phạm, kết quả giải quyết phản ánh và tình trạng phim đã bị gỡ xuất hiện trở lại. Những thông tin này sẽ giúp đánh giá hiệu quả kiểm soát nội dung. Việc xem xét thuật toán cần căn cứ vào mức độ rủi ro, đồng thời giới hạn phạm vi tiếp cận dữ liệu và bảo vệ thông tin cá nhân.

Đối với dòng tiền xuyên biên giới, theo đề xuất của luật sư Nguyễn Trọng Hoàng, cần xác định pháp nhân cung cấp dịch vụ và đối chiếu các nghĩa vụ mà đơn vị đó phải thực hiện. Nhận định về thất thu hoặc né thuế phải có chứng cứ, không thể chỉ dựa vào việc tiền được thanh toán ra nước ngoài. Mục tiêu là bảo đảm các bên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, người mua được bảo vệ và doanh nghiệp cạnh tranh theo những quy tắc minh bạch.

Mở đường cho nhà làm phim Việt tham gia thị trường

Quản lý phim AI còn đặt ra câu hỏi về năng lực tham gia thị trường. Một ê-kíp Việt có thể làm được phim, nhưng muốn duy trì sản xuất cần có quyền khai thác tác phẩm, đường phát hành và dữ liệu đủ rõ để tính toán doanh thu.

Hỗ trợ công nghiệp văn hóa, theo các chuyên gia, cần đi vào những điều kiện cụ thể. Ví dụ có thể thí điểm chương trình tuyển chọn phim ngắn ứng dụng AI, đánh giá đồng thời kịch bản, phương án bản quyền và kế hoạch phát hành. Kết quả cần được đo bằng chất lượng tác phẩm, khả năng tiếp cận khán giả và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Với công nghệ làm phim AI, một người có thể vận hành cả một đoàn phim.

Chia sẻ với phóng viên Tiền Phong về “miếng bánh AI” với các nhà sản xuất Việt, nhà sản xuất Hoàng Bích Thủy cho biết: “Giảm chi phí làm phim chỉ giải quyết một phần bài toán. Nhà sáng tạo cần biết tác phẩm được khai thác thế nào, khoản nào bị khấu trừ và họ có quyền kiểm tra số liệu ra sao. Thiếu những điều đó, rất khó quyết định đầu tư tiếp”.

Bà Thủy kiến nghị các hiệp hội nghề nghiệp có thể phối hợp xây dựng hợp đồng tham khảo, làm rõ quyền đối với kịch bản, hình ảnh, giọng nói và sản phẩm phái sinh. Điều khoản khai thác cần xác định phạm vi, thời hạn, thù lao; tránh một lần đồng ý sử dụng hình ảnh trở thành sự cho phép không giới hạn.

“Cần đề xuất cơ chế phản hồi về quyết định phân phối để nhà sản xuất biết vì sao tác phẩm bị hạn chế tiếp cận hoặc ngừng khai thác. Minh bạch phải bảo vệ được cả khán giả lẫn người làm nghề. Quyền lợi và nghĩa vụ đủ rõ mới tạo cơ sở tính toán đầu tư lâu dài”, bà Thủy chia sẻ.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày