Higashino Keigo - VIẾT CHO NGƯỜI… KHÔNG ĐỌC
Người viết 106 cuốn sách để dỗ dành một cậu bé ghét đọc sách.
I
Higashino Keigo, một trong những nhà văn trinh thám vĩ đại nhất mà thế giới từng sản sinh ra, qua đời vào ngày 23/7. Bốn ngày sau, tin mới ra ngoài thông qua nhà xuất bản Kodansha. Trong thông cáo, NXB xin mọi người không gửi tiền viếng, hoa, điện chia buồn, đồng thời hy vọng báo chí không tìm đến người thân của ông. Đến cái chết, Higashino Keigo cũng thu xếp lặng lẽ như cách mình đã sống.

Có tới bảy nhà xuất bản tại Nhật in sách của Keigo, nhưng Kodansha là nơi mọi thứ bắt đầu. Đó là NXB bảo trợ giải Edogawa Rampo, giải thưởng lập ra từ quỹ do chính Rampo, người được xưng tụng là ông tổ của văn chương trinh thám Nhật, hiến tặng năm 1954.

Phần thưởng cho giải thưởng thường niên này gồm: tượng của Rampo, hiện kim và tiền tác quyền của tác phẩm dự thi, do Kodansha in. Tức người chiến thắng đã được mở một cánh cửa để bước vào văn đàn Nhật Bản.
Năm 1985, trong 272 bản thảo dự thi có một tác phẩm từ một kỹ sư điện 27 tuổi ở Aichi, nhan đề “Sau giờ học”. Tác phẩm được đồng giải nhất và được in ngay trong năm ấy. Bốn mươi mốt năm sau, Kodansha nhắc lại kỷ niệm ấy trong lời tiễn biệt:
“Sách của ông Higashino Keigo, tính từ tác phẩm đầu tay ‘Sau giờ học’ do Kodansha xuất bản tháng 9 năm 1985, cho đến cuốn mới nhất ‘Ký ức vĩnh viễn’ do Bungeishunju dự kiến phát hành ngày 5 tháng 8 năm 2026, là 106 cuốn.”
106 đầu sách, hơn 100 triệu bản in được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, riêng ở thị trường Trung Quốc đã trở thành tác giả nước ngoài kiếm nhiều tiền tác quyền nhất (vượt qua J.K. Rowling), được chuyển thể thành hơn 60 tác phẩm điện ảnh, truyền hình, hoạt hình và sân khấu…
Thật khó tin là những con số phi thường ấy lại thuộc về một người từng căm ghét đọc sách.

II
Keigo sinh ngày 4 tháng 2 năm 1958 ở Ikno, một quận lao động chật chội của Osaka. Cha ông làm nghề đồng hồ, cửa tiệm đặt ngay tại nhà, và sẽ làm công việc ấy bền bỉ xuyên qua hai thế kỷ. Một trai con thứ rốt lòng, Keigo phải chia sẻ không gian sống chật hẹp với hai chị gái lần lượt hơn mình ba và năm tuổi. Về sau, ông đổ lý do mình dửng dưng với của cải vật chất cho tuổi thơ chật chội ấy: thêm đồ thì thêm vướng, nhìn đâu cũng chỉ thấy sách của hai bà chị.
“Từ hồi bé tôi đã ghét cay ghét đắng việc đọc sách. Nhìn mấy bà chị đọc những thứ như Tuyển tập Văn học Thiếu nhi Thế giới, tôi khinh: cái của nợ đó thì có gì mà hay. Đó là thời gian tivi bắt đầu phổ cập vào từng nhà, nên có lẽ tôi thuộc thế hệ đầu tiên rời bỏ chữ in. Tôi ngồi trước cái tivi đen trắng, đắm chìm trong ‘Astro Boy’ và ‘Tetsujin 28’.”

Ông thậm chí còn không đọc cả truyện tranh. Văn hoá đọc đơn giản là bị đánh bại dễ dàng bởi chiếc tivi đen trắng với những hình ảnh chuyển động tân thời vào lúc ấy. Trong những giấc mơ hoang đường nhất, có lẽ Keigo không bao giờ ngờ nổi chính mình sẽ làm cái công việc ngỡ như bất khả: lôi kéo mọi người rời mắt khỏi truyền hình và điện thoại thông minh để cầm quyển sách lên, làm cái việc mà chính ông khinh bỉ trong những tháng năm bồng bột.
III
Trường cấp hai của Keigo ở Ikuno, theo mô tả của Keigo trong một cuốn tản văn, “không khác gì một vùng đất vô pháp”. Và Keigo chính là lớp trưởng của một trong những cái lớp vô thiên nhất. Học bán trú nhưng không có suất ăn trưa, các học trò ở Osaka thời đó phải mang cơm nhà đi. Và bọn du côn sẽ trộm cơm của bạn học.
“Lũ ấy, theo cách của bọn chúng, vẫn giữ đạo nghĩa. Chúng tuyệt đối không bao giờ ăn hết cả hộp cơm. Hộp cơm thời ấy phần lớn vuông và dẹt, vậy mà cứ như có ai đặt cái thước kẻ lên đó, đúng một nửa phần cơm biến mất. Thức ăn cũng vậy: bốn cây xúc xích còn hai, năm miếng trứng cuộn còn hai miếng rưỡi. Người bị hại, đứng trước sự chỉn chu quá đáng đến thế, đâm ra mất luôn cả ý muốn nổi giận.”

Ông viết tiếp:
“Dẫu chỉ một nửa, bị người ta tự tiện ăn cơm của mình thì vẫn là phiền, nên chúng tôi nghĩ ra đủ thứ biện pháp phòng vệ. Cách tôi dùng là gắn vào cặp một cái khóa đặc chế. Nhờ nó mà tôi bảo vệ được phần ăn. Nhưng một hôm, tan giờ thể dục quay về lớp, tôi thấy trên cặp mình dán một mảnh giấy nhỏ. Trên đó viết: ‘Đừng có bần tiện thế.’”
Thay vì phá khoá, lũ du côn đã quyết định viết một mảnh giấy phê bình đạo đức. Các fan của Keigo lẫn những nhà xuất bản, hãng phim đã làm giàu từ truyện của ông hẳn phải cám ơn những kẻ du côn vô danh này. Bởi vì mảnh giấy kia không chỉ dán vào cặp mà còn dán vào tâm trí ông. Chính ký ức này đã khiến Keigo, sau khi đã trở thành nhà văn, không viết trinh thám theo kiểu truy tìm hung thủ (Whodunit) hay cách thức gây án (Howdunit) mà tập trung vào “Tại sao lại làm vậy?” (Whydunit), đồng thời xác lập những điểm nhìn luân lý, không phán xét thiện/ác rạch ròi và luôn đặt nhân vật (và độc giả) vào các tình huống đạo đức nghẹt thở.

IV
Năm 1974, khi đang học cấp ba, Keigo nhìn thấy một cuốn sách có nhan đề “Archimedes không dính chàm” ( アルキメデスは手を汚さない) của Komine Hajime, một truyện trinh thám lấy bối cảnh học đường. Không biết mãnh lực nào đã lôi kéo cậu cầm nó lên, đọc thử vài trang đầu, và không thể đặt nó xuống được. Đó là lần đầu tiên trong đời cậu đọc hết một quyển sách vì thích, chứ không phải vì bị nhà trường hay hai bà chị ép.

Rồi cậu mê mẩn trinh thám. Cậu mê nhất Matsumoto Seichō, nhà văn khai sinh ra trường phái “trinh thám xã hội” tập trung vào khai thác động cơ thay vì thủ thuật gây án, đi rất sâu vào tâm lý của những con người nhỏ bé bị nghiền nát bởi nghèo đói, tham nhũng chính trị và các góc tối của xã hội Nhật Bản thời hậu chiến.
Và cậu bắt đầu làm một chuyện không tưởng: viết. Cuốn truyện đầu tiên được viết vào một quyển vở dày, loại sinh viên hay dùng. Từ chỗ ghét chữ, cậu chuyển sang mê chữ. Cậu thậm chí còn viết kịch bản vì vốn mê phim. Nhưng sau này, đứng trước sự lựa chọn, Keigo đã chọn tập trung hoàn toàn cho tiểu thuyết, và duy trì một nguyên tắc thẩm mỹ sẽ theo mình suốt bốn mươi mốt năm.
“Hồi nhỏ tôi là một thằng bé cực kỳ ghét sách, nên điều tôi lúc nào cũng nghĩ, là phải viết ra những cuốn tiểu thuyết mà đến cả cái thằng bé ghét sách ngày ấy cũng đọc thấy hay.”

V
Nhưng tiểu thuyết chuyên nghiệp là chuyện của mãi sau này. Viết lách với Keigo chỉ là một thú vui sau những giờ học tập. Rồi ông đậu vào Đại học Phủ lập Osaka, khoa kỹ thuật điện. Ở đây ông tìm thấy một niềm đam mê khác của đời mình: bắn cung. Ông mê và giỏi tới mức trở thành đội trưởng đời thứ mười chín của câu lạc bộ bắn cung.
Rời đại học, ông được nhận vào làm kỹ sư tại Nippon Denso: ban ngày thiết kế linh kiện ô tô, ban đêm viết truyện giết người. Cứ viết xong là ông gửi đến nhà xuất bản Kodansha để dự thi giải Rampo. Năm 1983 rớt. Năm 1984 rớt tiếp. Phải tới năm 1985, ông mới giành giải với truyện “Sau giờ học”, lấy từ tên một quán cà phê gần ga tàu ở Kanazawa. Trong truyện có câu lạc bộ bắn cung, và vật chứng quan trọng nhất là một mũi tên.
Năm 1986, ông xin nghỉ việc, lên sống ở Tokyo để trở thành một nhà văn toàn thời gian.

VI
Điều trớ trêu là sau màn ra mắt ngoạn mục ấy, Keigo bước vào giai đoạn thất bại triền miên suốt mười hai năm. Sách in ra không bán được, gần như không cuốn nào tái bản. Ông tiếp tục gửi bản thảo đến các cuộc thi văn học và rớt mười lăm lần!
Xin nhấn mạnh: mười lăm (15) lần!

Chuyển lên sống ở thành phố lớn, đối diện với thất bại liên tục, trải nghiệm tình đời ấm lạnh, Keigo còn viết thêm tản văn. Trong một cuốn tản văn, mục niên biểu tự soạn, có bốn chữ được ghi vào mốc 1997: “trở lại độc thân”.
Đó là toàn bộ những gì ông từng công khai về cuộc hôn nhân của mình. Không ai biết tên người phụ nữ ấy, không ai biết ông từng có con hay chưa. Thứ cá nhân duy nhất của ông xuất hiện thêm trước mắt công chúng là một con mèo hoang mà ông mang về nuôi, đặt tên Yumekichi. Ông tả nó với cái giọng vẫn dùng để tả mình: “một con mèo vô dụng tới mức làm người ta thất vọng”. Ảnh con mèo được in trên bìa của cuốn tản văn.
Trong mười lăm lần thất bại ở các cuộc thi ấy, có năm lần ông đã vào đến chung khảo của Naoki1. “Bí mật”, “Bạch dạ hành”, “Yêu đơn phương”, “Thư”, “Ảo dạ” đều trượt, kèm với nhiều lời bình luận khá cay nghiệt.
“Bạch dạ hành” - cuốn mà ngày nay được xem là kiệt tác - bị giám khảo phê: “Hai nhân vật chính không có mùi người”, và gọi cách viết của ông là “thái độ cố hết sức không bước vào nội tâm nhân vật”.
Lời chê ấy, khi đọc lại vào thời điểm này, thực chất là một mô tả tuyệt vời cho thủ pháp nghệ thuật mà lúc ấy chưa nhiều người cảm được. Phải tới bản thảo thứ sáu vào đầu năm 2006, nhan đề “Phía sau nghi can X”, phong cách của Keigo mới được chấp nhận.
Trong bài tản văn viết sau khi nhận giải, ông dựng nên một chân dung rất mực điềm tĩnh: “Gửi bản thảo đi thi là trò chơi kích thích mà chẳng có rủi ro gì. Giải Naoki(1) với tôi là như vậy. Trò chơi là thứ để tận hưởng quá trình, không phải kết quả. Thắng được thì tốt”.
Sau này tự ông đập tan sự điềm tĩnh ấy khi khai thật trong một lần hiếm hoi lên truyền hình. Rằng những ngày ấy, cứ mỗi lần trượt ông lại đi uống rượu với bạn bè và… nói xấu ban giám khảo.
Rồi khi tỉnh những cơn rượu, ông lại viết tiếp và gửi bản thảo đi thi tiếp.

Rất ít người có thể chịu đựng cảm giác bị người khác chấm rồi bị chê bai công khai trên báo chí cho cả nước đọc, hết lần này đến lần khác.
Keigo chịu được, vì ông đã quen với việc đứng ở vạch bắn, dồn hết sự chú tâm bình sinh để mũi tên bay đi, rồi trượt, rồi lặng lẽ rút mũi tên tiếp theo ra khỏi bao.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Trượt và làm lại.
Cho đến khi mũi tên đi vào hồng tâm, ở lần thứ mười sáu.

Đây là nơi mà mọi người viết có thể học hỏi từ Keigo. Uống rượu và nói xấu ban giám khảo tất nhiên là vui khỏi bàn rồi, quan trọng là rút tiếp một mũi tên ra và nhắm vào hồng tâm. Khi nhận giải Naoki, ông không dùng sáo ngữ “thật vinh dự” mà nói chính xác cái tâm thế của mình khi gửi bản thảo: “Thắng được thì tốt”.
Thắng. Động từ của một vận động viên, trong một môn thể thao mà đối thủ kỳ thực là chính mình. Rồi ở cuối bài tản văn nhận giải, ông viết:
“Sau khi nhận giải, tôi gọi điện cho chị. Chị đã biết tin trên tivi rồi, và chị khóc. Mới hôm trước, một cái phong bì được gửi tới, từ cha tôi, năm nay tám mươi tám tuổi.”

Người chị bị đứa em khinh bỉ vì đọc sách năm nào nay vỡ oà khi em mình đoạt giải, sau biết bao nhiêu lời chỉ trích mà nó phải đón nhận, sau biết bao nỗ lực bất thành, là một trong những câu chuyện đẹp nhất mà nghề viết từng chứng kiến. Và chị biết tin không phải do đứa em khoe mà từ tivi, chính cái thứ công nghệ ngỡ như khiến đứa em cả đời không bao giờ động tới quyển sách nào. Và người cha miệt mài đi sửa thời gian cho người khác kia đã viết gì khi hay tin con trai mình đã đạt giải thưởng thứ hai trong đời, tưởng thưởng cho sự dũng cảm bỏ lại tất cả sau lưng, từ nghề kỹ sư ổn định đến quê hương cắt rốn? Và vì sao một người đàn ông tám mươi tám tuổi lại cặm cụi viết một lá thư cho đứa con trung niên, phải chăng có những thứ không thể nói mà chỉ có thể viết?
VII
Khoảng năm 2007, Higashino Keigo biến mất. Ngừng ký tặng sách, ngừng nói chuyện trước công chúng, ngừng phỏng vấn, ngừng lên truyền hình, ngừng làm giám khảo cho các cuộc thi viết vì “thấy không còn phù hợp khi phải góp ý cho những người viết còn giỏi hơn mình”. Cứ như đứa nhỏ năm xưa đã trở lại và tạo ra một cái khoá đặc chế mới, để ngăn người ta nhìn vào đời sống cá nhân của mình.


Chỉ một chủ đề duy nhất khiến ông mở khoá: trượt tuyết. Ở Osaka hiếm ai trượt tuyết. Thế vận hội mùa đông Sapporo 1972, khi Keigo đang học lớp tám, đã “in hằn” vào người ông. Năm lớp chín, được một người chú làm việc cho một công ty cáp treo dẫn vào chơi thử, Keigo yêu luôn môn này.
Đến năm bốn mươi, ông tập môn snowboard(2) và mê mụ. Nhóm bạn trượt tuyết là bằng chứng duy nhất cho thấy ông có một đời sống bạn bè. Một người bạn tiết lộ trong một bài điểm sách của ông rằng có lúc ông trượt tới mười ngày mỗi tháng, đúng vào thời gian ông in sáu quyển sách chỉ trong hai năm. Sau đó ông chuyển sang chơi thử môn curling(3), và bị chấn thương: gãy xương mũi và răng cửa.
Ông thậm chí còn tính chi phí trượt tuyết cho nhà xuất bản trong thời gian viết tản văn về trượt tuyết, và bị bạn bè mắng yêu là “bần tiện”, đúng cái từ mà bọn ăn trộm hộp cơm đã dán lên cặp ông ba mươi năm trước.
Năm 2018, ông sáng lập SNOWBOARD MASTERS, giải đấu có tiền thưởng lớn nhất Nhật Bản, bằng tiền túi. Được cái nhờ danh tiếng của Keigo, toàn bộ thành viên trong ban tổ chức đều làm không công, thậm chí còn tự bỏ tiền túi ra để vận hành.

“Tôi thậm chí còn nghĩ rằng tám mươi phần trăm lý do khiến tôi là tôi của hôm nay, là thứ mà snowboard đã mang lại cho tôi.”
Người đàn ông không cần đồ đạc, lớn lên trong căn nhà không có nổi một phòng riêng, cuối cùng đã tìm ra thứ đáng để tiêu tiền: một môn chơi mang lại cho ông năng lượng, sự tự do và nguồn cảm hứng để trao đi cho những người trẻ.
Cậu lớp trưởng của cái lớp vô pháp ấy đã quay lại làm lớp trưởng.
VIII
Mấy năm cuối đời ông bệnh nặng, nhưng không nói với ai ngoài người thân. Nukui Tokurō, đại diện Hội Nhà văn Trinh thám Nhật Bản, kể sau khi ông mất: “Mấy năm nay ông ấy bệnh, không xuất hiện ở các buổi gặp mặt trong giới nữa. Tôi vừa nghe nói sức khỏe khá lên, nên càng sốc.”

Đầu năm 2026, buổi chiếu ra mắt phim hoạt hình chuyển thể từ “Người gác cây long não”, phim hoạt hình đầu tiên làm từ tác phẩm của ông, đón chào một vị khách đặc biệt. Keigo, trên xe lăn:
“Chào mọi người. Đã hai mươi năm rồi tôi mới xuất hiện ở một chỗ như thế này.”
Phim ra rạp ngày 30 tháng 1. Đến ngày 4 tháng 2, sinh nhật lần thứ sáu mươi tám của ông, đoàn phim tổ chức buổi chào khán giả mừng phim công chiếu. Ông không đến được, chỉ gửi một lời nhắn:
“Với tiểu thuyết, biến những hình ảnh trong đầu thành câu chữ là rất khó, lúc nào tôi cũng thấy bứt rứt. Nhưng tôi đã bị choáng ngợp trước sức mạnh của hoạt hình, thứ có thể vẽ trọn vẹn những hình ảnh được mở rộng ra không giới hạn.”
Cậu bé từng ngồi trước cái tivi đen trắng xem hoạt hình và khinh bỉ những cuốn sách của hai bà chị, ở tuổi sáu mươi tám, ngồi trên xe lăn xem hình ảnh trong đầu mình chạy được trên màn ảnh.
Cuốn sách thứ 106, cuốn cuối cùng, ra mắt ngày 5 tháng 8 năm 2026, mười ba ngày sau khi tác giả của nó qua đời: “Ký ức vĩnh viễn”, tập thứ mười một của series Galileo, quảng bá bằng một dòng mà lúc viết ra chưa ai biết sẽ đúng đến mức nào: “Bí ẩn cuối cùng của Galileo.”
Câu chuyện thế này. Một nữ cảnh sát bị đâm. Hung thủ là một ông già chừng bảy mươi tuổi, định nhảy lầu tự sát nhưng không thành, rồi giữ im lặng tuyệt đối suốt quá trình thẩm vấn. Người ta lần theo một món đồ ông già mang trong người, để mở cánh cửa dẫn tới “bí ẩn không được phép quên”.
Cuốn sách cuối cùng ông viết là về một ông già không chịu nói.

Bìa sách vẽ một chiếc đồng hồ quả quýt trôi lơ lửng trong bóng tối, và nhà xuất bản nói có một chi tiết quan trọng của câu chuyện được giấu ở mặt trong tấm bìa. Ông không kịp nhìn thấy sách in ra, cũng không để lại lời nào về nó.
Nhưng nếu phải chọn một hình ảnh duy nhất để tiễn con trai của người thợ đồng hồ ở Ikuno, người đã dành trọn bốn mươi mốt năm tháo tung cỗ máy thời gian của người khác ra, xem cái gì đã hỏng, cái gì đã bị quên, cái gì không được phép quên, rồi lắp lại, thì khó có hình ảnh nào đúng hơn một chiếc đồng hồ quả quýt trôi trong bóng tối.
Đó sẽ là cuốn sách cuối cùng của một người đã dành trọn đời mình cho việc viết ra những cuốn sách để chiến đấu với sự xao nhãng của người đọc hôm nay. Vì ngoài kia rất nhiều người chưa từng đọc quyển sách nào đang chờ một khoảnh khắc khai ngộ, như người vừa nằm xuống.

(1) Giải thưởng văn học Naoki Sanjūgo, trao hai lần một năm vào tháng 1 và tháng 7, thiên về thương mại, là một trong hai giải thưởng văn học danh giá và có sức ảnh hưởng lớn nhất Nhật Bản. Giải còn lại là Akutagawa, thiên về nghệ thuật.
(2) Một môn thể thao mùa đông, trong đó người chơi đứng trên một tấm ván trượt chuyên dụng, dùng dây buộc chặt hai chân vào ván và trượt xuống các sườn dốc phủ đầy tuyết. Môn này kết hợp giữa lướt sóng, trượt ván đường phố và trượt tuyết.
(3) Curling (bi đá trên băng) là môn thể thao mùa đông thi đấu đồng đội, trong đó người chơi trượt các hòn đá granite nặng khoảng 20kg trên mặt băng về phía tâm vòng tròn mục tiêu, kết hợp dùng chổi quét băng để điều chỉnh tốc độ và hướng đi.
東 野 圭 吾
1 9 5 8 – 2 0 2 6