Ngỡ ngàng phát hiện sổ đỏ đang đảm bảo cho khoản vay 400 triệu, nợ xấu đã lên 1,7 tỷ
Một trong những tranh chấp thường gặp trong hoạt động tín dụng là việc người có tài sản đứng ra thế chấp cho khoản vay của người khác.
Một vụ kiện tại Cần Thơ mới đây cho thấy một tình huống khá đặc biệt. Một cặp vợ chồng nhận 60 triệu đồng từ người quen, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình lại được sử dụng để bảo đảm cho khoản vay ngân hàng 400 triệu đồng. Sau hơn 10 năm, người vay còn nợ ngân hàng gần 1,7 tỷ đồng cả gốc và lãi.
Xuất phát từ khoản vay 60 triệu đồng
Theo Bản án số 986/2026/DS-PT ngày 12/8/2026 của TAND TP Cần Thơ, ông Huỳnh Văn V và bà Lê Thị Thu V1 cho biết khoảng tháng 12/2011, vợ chồng có nhu cầu vay 60 triệu đồng để sản xuất.
Do quen biết ông Ngô Văn P, khi đó là một cán bộ địa phương, vợ chồng ông V nhờ người này giúp làm thủ tục vay ngân hàng.
Theo lời kể của ông V, ông P yêu cầu họ đưa bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm hồ sơ thế chấp. Sau đó, hai vợ chồng đến ngân hàng ký các giấy tờ được chuẩn bị sẵn và nhận 60 triệu đồng.
Vợ chồng ông V cho rằng do thiếu hiểu biết pháp luật và tin tưởng ông P cũng như cán bộ ngân hàng nên họ không đọc kỹ nội dung các hợp đồng trước khi ký.
Đến năm 2016, khi ông P bị khởi tố và xét xử trong một vụ án hình sự, vợ chồng ông V mới biết giấy đất của mình đã được dùng để bảo đảm cho khoản vay lớn hơn nhiều.
Sổ đỏ bảo đảm khoản vay 400 triệu đồng
Theo hồ sơ, ngày 20/12/2011, ông P ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng để vay 400 triệu đồng, thời hạn 12 tháng.
Để bảo đảm khoản vay, ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng thửa đất diện tích 5.860 m2 đứng tên ông V và bà V1. Ngoài ra, một người khác cũng dùng các quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm cho khoản vay này.
Như vậy, số tiền ghi trong hợp đồng tín dụng cao hơn nhiều so với 60 triệu đồng mà vợ chồng ông V nói họ thực tế nhận được.
Theo phía ngân hàng, hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký, được công chứng và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Việc ông V, bà V1 thỏa thuận với ông P về việc cho mượn giấy đất và số tiền thực tế họ nhận được là chuyện riêng giữa các bên, ngân hàng không biết.
Khoản vay còn 295 triệu, nhưng lãi hơn 1,4 tỷ đồng
Sau nhiều năm, ông P vẫn chưa thanh toán hết khoản vay. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, số tiền gốc còn nợ ngân hàng là 295 triệu đồng, trong khi tiền lãi đã lên tới 1,408 tỷ đồng.
Tổng cộng, cấp sơ thẩm buộc ông P phải trả ngân hàng 1,703 tỷ đồng, gồm 295 triệu đồng tiền gốc, 960 triệu đồng lãi trong hạn và 448 triệu đồng lãi quá hạn.
Nếu ông P không thanh toán, ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại các tài sản đã được dùng để bảo đảm khoản vay.
Đây cũng là phần khiến tranh chấp trở nên phức tạp, bởi một trong những tài sản bảo đảm thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông V, bà V1.
Vợ chồng chủ đất yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp
Ông V và bà V1 khởi kiện yêu cầu tòa tuyên hợp đồng thế chấp ký năm 2011 vô hiệu, đồng thời yêu cầu ngân hàng trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hai người cho rằng mình chỉ đồng ý cho ông P dùng giấy đất để vay 60 triệu đồng, không đồng ý bảo đảm cho khoản vay 200 triệu đồng, càng không biết hợp đồng tín dụng giữa ông P và ngân hàng có số tiền 400 triệu đồng.
Họ cũng cho rằng có sự câu kết giữa ông P và cán bộ tín dụng để khiến họ ký vào các giấy tờ vay số tiền lớn hơn số tiền thực tế nhận được.
Tuy nhiên, tòa phúc thẩm không chấp nhận lập luận này.
HĐXX cho rằng ông V và bà V1 đã trực tiếp ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với ngân hàng. Hợp đồng được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền và phù hợp quy định pháp luật.
Đáng chú ý, tòa cũng xét đến việc chính vợ chồng ông V có vay 60 triệu đồng từ ông P, trong khi ông P sử dụng giấy đất của họ để vay ngân hàng. HĐXX cho rằng việc ký hợp đồng thế chấp phù hợp với ý chí của ông V, bà V1 nên không có căn cứ tuyên hợp đồng vô hiệu.
Như vậy, dù tòa xác định số tiền thực tế vợ chồng ông V nhận từ ông P chỉ là 60 triệu đồng, điều này không làm mất hiệu lực của hợp đồng thế chấp mà họ đã ký với ngân hàng.
Một tình tiết khác của vụ án nằm ở khoản tiền mà ông P cho rằng đã đưa thêm cho vợ chồng ông V.
Ông P cung cấp hai biên nhận thể hiện đã đưa cho ông V 90 triệu đồng vào năm 2015 và 50 triệu đồng vào năm 2016, nâng tổng số tiền ông V được cho là đã nhận lên 200 triệu đồng. Song ông V phủ nhận việc nhận hai khoản tiền này.
Tại phúc thẩm, HĐXX nhận thấy các biên nhận có dấu hiệu sửa chữa, tẩy xóa và lời trình bày của ông P có nhiều điểm không phù hợp về thời gian. Tòa xác định ông V chỉ nhận 60 triệu đồng và không phải trả thêm 140 triệu đồng theo hai biên nhận nói trên.
Đối với một tài sản thế chấp khác, ông Trịnh An B cũng được xác định đã nhận 105 triệu đồng từ ông P. Tuy nhiên, ông B đã trực tiếp trả khoản tiền này cho ngân hàng từ năm 2013 để lấy lại giấy đất nhưng chưa được giải chấp do khoản vay của ông P vẫn còn dư nợ.
Tòa phúc thẩm xác định khoản 105 triệu đồng này được cấn trừ, ông B không phải trả lại tiền gốc cho ông P mà chỉ phải trả 17,443 triệu đồng tiền lãi.
Sau cùng, TAND TP Cần Thơ giữ nguyên phần chính liên quan đến khoản nợ ngân hàng.
Ông P phải thanh toán 1,703 tỷ đồng cho ngân hàng, trong đó 295 triệu đồng tiền gốc và hơn 1,408 tỷ đồng tiền lãi. Nếu không thanh toán, ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại toàn bộ tài sản đã được dùng để bảo đảm khoản vay theo các hợp đồng thế chấp.
Dưa theo Bản án số 986/2026/DS-PT ngày 12/8/2026 của TAND TP Cần Thơ.