Đại án sở hữu kỳ nghỉ 3.300 tỷ đồng: Luật sư cảnh báo làn sóng điều tra có thể mở rộng trong ngành du lịch
Luật sư Đặng Văn Cường cho rằng các hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ gắn với bất động sản không có thật, chưa đủ điều kiện kinh doanh hoặc doanh nghiệp không có quyền khai thác theo cam kết có thể bị xem là thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của khách hàng.
- Vụ "hợp đồng kỳ nghỉ": Giám đốc trẻ nhất sinh năm 2000, nhiều CEO trình độ cao; có nhân sự nghỉ việc rồi chuyển sang công ty cùng lĩnh vực để tiếp tục lừa đảo
- Vụ lừa đảo kỳ nghỉ 2.700 tỷ đồng: Làm rõ nghi vấn người có chức vụ 'chống lưng'
- Công bố danh sách 27 công ty liên quan vụ lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, người dân cần đặc biệt chú ý

TS Đặng Văn Cường
Ngày 19/6, Công an Hà Nội cho biết đã điều tra 24 vụ án liên quan hoạt động bán hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, khởi tố gần 200 bị can. Bước đầu xác định có 27 doanh nghiệp đã ký khoảng 17.000 hợp đồng, chiếm đoạt khoảng 2.700 tỷ.
Tại TP.HCM, cơ quan điều tra đã khởi tố 11 vụ án, gần 200 bị can, thu giữ 5.563 hợp đồng, bước đầu xác định số tiền bị chiếm đoạt hơn 612 tỷ đồng.
Như vậy, đến nay, Công an Hà Nội và TP.HCM đã khởi tố tổng cộng 35 vụ án với gần 400 bị can liên quan hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ. Động thái này diễn ra chưa đầy một tuần sau khi loạt phóng sự điều tra “Cạm bẫy từ các hợp đồng kỳ nghỉ” của VTV được phát sóng, gây bức xúc trong dư luận.
Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ: Đâu là lừa đảo, đâu là hợp pháp?
Chia sẻ thêm vấn đề trên, Tiến sĩ Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, quá trình điều tra các vụ án này, cơ quan điều tra sẽ làm rõ hành vi phạm tội của các đồng phạm khác, sẽ mở rộng sang các doanh nghiệp khác, làm rõ vai trò, nhận thức, số tiền hưởng lợi và các vấn đề pháp lý khác có liên quan đối với từng doanh nghiệp để sàng lọc, phân loại, phân hóa, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ông Cường cho biết, pháp luật Việt Nam không cấm kinh doanh hoạt động lưu trú du lịch, không cấm việc cho thuê căn hộ khách sạn, phòng nghỉ du lịch. Việc các doanh nghiệp bán dịch vụ du lịch dài hạn, cho thuê phòng khách sạn thời gian dài với hình thức đặt tiền trước là 1 trong các phương thức kinh doanh đã tồn tại ở nhiều nước trên thế giới.
Ngoài ra, không phải hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ nào cũng là thủ đoạn lừa đảo. Nếu doanh nghiệp kinh doanh lữ hành du lịch hoặc các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản du lịch mà có khách sạn, khu nghỉ dưỡng hoặc có hợp đồng hợp tác với các chủ đầu tư bất động sản du lịch, họ thỏa thuận khách hàng mua tour du lịch, đặt phòng du lịch dài hạn, thu tiền trước, với giá cả rõ ràng, hoàn toàn có khả năng thực hiện hợp đồng.
Theo ông Cường, đây là quan hệ dân sự hợp pháp, là 1 hình thức kinh doanh linh hoạt, thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển. Do trả trước dịch vụ nên khách hàng cũng được hưởng lợi về giá dịch vụ.
Tuy nhiên giao dịch này chỉ thành công và hợp pháp khi mọi thứ đều là thật, bất động sản nghỉ dưỡng có thật, người đứng ra giao dịch có thẩm quyền thật, nội dung thỏa thuận có tính khả thi và quyền lợi của khách hàng được đảm bảo theo hợp đồng.
Còn trường hợp bất động sản nghỉ dưỡng không có thật, chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh hoặc doanh nghiệp ký hợp đồng bán kỳ nghỉ không có quyền đối với danh mục các khu du lịch, điểm du lịch, các bất động sản du lịch trong hợp đồng, khách hàng không thể thực hiện được quyền lợi của mình theo cam kết thì các giao dịch này là gian dối về việc ký kết nhận tiền là chiếm đoạt tài sản.
Luật sư Đặng Văn Cường cho biết, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh sở hữu kỳ nghỉ, thu mua kỳ nghỉ. Tất cả các doanh nghiệp này, các đối tượng quản lý sẽ bị cơ quan chức năng triệu tập làm rõ để xử lý. Doanh nghiệp nào kinh doanh mà không có bất động sản nghỉ dưỡng, không có hợp đồng liên kết với các khu du lịch, các bất động sản ghi trong hợp đồng, quyền lợi của khách hàng không thể thực hiện được thì đều có dấu hiệu tội phạm.
“Không chỉ công an Hà Nội, công an TP HCM và 1 số tỉnh tới đây cũng có thể sẽ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can để xử lý với các đối tượng kinh doanh kỳ nghỉ theo quy định của pháp luật. Đây là hoạt động mạnh tay của cơ quan tiến hành tố tụng để thanh lọc hoạt động lữ hành du lịch ở Việt Nam cũng như kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho thuê phòng khách sạn thời hạn kéo dài bằng hình thức “bán kỳ nghỉ””, ông Cường nhận định.
Những ai có thể bị xử lý hình sự?

Các đối tượng bị cơ quan chức năng khởi tố trong các vụ án liên quan đến hợp đồng kỳ nghỉ.
Điều đáng chú ý trong những vụ này, theo Luật sư Đặng Văn Cường, không phải tất cả những người làm việc trong doanh nghiệp đó đều bị khởi tố hình sự. Những người nào biết đó là hoạt động lừa đảo, nhận thức được hành vi của mình là gian dối, hợp đồng không thể thực hiện được nhưng vẫn tham gia vào đường dây, tiếp tay, giúp sức cho các đối tượng lừa đảo để được hưởng lợi thì sẽ được xác định là đồng phạm.
Pháp luật quy định đồng phạm là từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm. Bởi vậy nếu quá trình điều tra, có căn cứ cho thấy ngoài các bị can đã bị khởi tố thì còn có những người khác biết rõ hoạt động kinh doanh này là phi pháp, quyền lợi của khách hàng không được đảm bảo nhưng vẫn tham gia vào chuỗi kinh doanh này thì sẽ bị xử lý hình sự về tội lừa đảo với vai trò đồng phạm giúp sức hoặc là người thực hành, người trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm.
“Đối tượng vẽ ra mô hình này, tổ chức triển khai mô hình này, tuyển dụng lao động để thực hiện công việc, các đối tượng quản lý kinh doanh, đội ngũ sales, marketing biết được phương thức thủ đoạn chiếm đoạt tiền của nạn nhân nhưng vẫn thực hiện hành vi thì sẽ được xác định là đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ông Cường nhấn mạnh.
Cơ quan điều tra cũng sẽ làm rõ có hành vi che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm, rửa tiền hay không để xử lý đối với các đối tượng có liên quan theo quy định của pháp luật. Nếu các đối tượng biết đây là hành vi lừa đảo nhưng vẫn giúp sức, xúi giục hoặc che giấu hành vi phạm tội, đưa tiền bất hợp pháp vào lưu thông để che giấu nguồn gốc dòng tiền thì đều bị xử lý hình sự với các tội danh khác nhau, tùy thuộc vào hành vi và hậu quả.
Ôgn Cường cho biết, pháp luật quy định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại điều 174 bộ luật hình sự. Hành vi gian dối có trước, khiến nạn nhân tin tưởng chuyển tiền nên các đối tượng đã chiếm đoạt. Hành vi lừa đảo cấu thành tội phạm từ thời điểm các đối tượng đưa ra thủ đoạn gian dối và nhận tiền của nạn nhân.
Kể cả trường hợp sau đó các đối tượng trả lại tiền cho nạn nhân thì hành vi vẫn cấu thành tội phạm, việc trả tiền sau khi chiếm đoạt chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là tình tiết bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Về mặt lý luận thì hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản cấu thành tội phạm từ thời điểm nạn nhân chuyển tiền và đối tượng phạm tội nhận được tiền của nạn nhân, không phụ thuộc vào việc sau đó có trả lại tiền hay không.