Đi tìm học thuyết "ngàn năm" về tiến hóa
Học thuyết tiến hóa giải thích về mối quan hệ giữa các dạng sinh vật khác nhau trên Trái đất...
Tiến hóa là sự thay đổi về mặt di truyền qua các thế hệ giúp sinh vật thích nghi tốt hơn dưới các tác động của tự nhiên. Một khái niệm tưởng chừng đơn giản, nhưng để tới được chân lý ấy con người đã mất cả ngàn năm.

Người đầu tiên nghĩ ra việc nghiên cứu tư tưởng tiến hóa là triết gia Anaximander - nhà khoa học lỗi lạc của Hy Lạp, học trò nổi tiếng của Thales. Ông cho rằng, tất cả các sinh vật trong tự nhiên đều chịu tác động của những quy luật riêng, loài nào cố tách ra khỏi quy luật, loài đó sẽ chết. Thế nhưng ông không giải thích được quy luật ấy là gì.

Aristote là nhà triết học nổi tiếng thứ hai thời cổ đại quan tâm tới tiến hóa. Ông cho rằng, các sinh vật trong tự nhiên là một chuỗi các mắt xích. Các mắt xích đi từ sự chưa hoàn chỉnh tới sự hoàn chỉnh nhất.


Trong thời kỳ này, khoa học hoàn toàn không phát triển, tất cả các vấn đề trong xã hội đều bị nhà thờ kìm hãm. Và tất nhiên, thuyết tiến hóa không có chỗ đứng trong xã hội, mọi lý do hình thành muôn loài đều được giải thích bằng đấng tối cao.

Tới tận thế kỷ XIV, phong trào Phục Hưng và cuộc cách mạng khoa học đã giúp cho các học thuyết tiến hóa sống lại.



Vào năm 1760, nhà tự nhiên học người Pháp - Buffon đã viết “Lịch sử tự nhiên của muôn loài” - cuốn sách trình bày một cách rõ ràng về khả năng tiến hóa của sinh vật. Buffon đã quan sát xương chi của tất cả các loài động vật có vú ông nhận thấy có sự tương đồng ở nhiều điểm.


Sự tiến hóa phát sinh do xu hướng nội tại vươn tới sự hoàn thiện. Khi một sinh vật hoàn thiện, chúng thích nghi ngày càng tốt hơn với môi trường sống.

Ông cho rằng, việc sử dụng một cơ quan nào thường xuyên sẽ giúp cơ quan đó biến đổi và loài vật càng tiến hóa hơn. Ví dụ như việc hình thành loài hươu cao cổ: tổ tiên của loài hươu này có cổ ngắn, có xu hướng vươn dài cổ ra để có thể chạm đến những tán lá cây là nguồn thức ăn chính của chúng.
Sự thường xuyên vươn dài cổ nầy làm cho con cháu của chúng có cổ dài hơn. Vì các cá thể nầy có cổ vươn dài nên thế hệ kế tiếp sẽ có cổ dài hơn. Cứ tiếp tục như thế, mỗi thế hệ có cổ hơi dài hơn thế hệ trước đó.


Trong chuyến phiêu lưu ấy, ông vô cùng ngạc nhiên trước khả năng sinh sản của muôn loài. Ví như ở loài voi, loài vật mang thai lâu nhất, nếu một đàn voi đẻ liên tục trong vòng 10 năm, nó có thể tạo ra khoảng 19 triệu cá thể.


Chỉ có những cá thể mạnh khỏe nhất, thích nghi nhất mới có thể sống sót được. Và một phần những đặc điểm thích nghi ấy có thể di truyền cho thế hệ sau để tạo nên những giống loài ngày càng hoàn chỉnh hơn.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày
